Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 3
Chương 3: Tom si tình
Sáng thứ hai, lúc thức dậy và cũng như mọi sáng thứ hai khác, Tom cảm thấy rất khổ tâm:
một chiếc răng của nó bị lung lay. Nhưng thực tế, nếu nó nói cho bà dì biết, rất có thể bà muốn nhổ chiếc răng ra, làm vậy thì rất đau mà nó cũng không thể tránh được chuyện đi học.
Thế là Tom nghĩ đến cái chân bị thương của mình và cất tiếng rên rỉ thảm thiết. Cuối cùng, Sid đang ngủ mê bèn tỉnh dậy.
- Chuyện gì vậy anh Tom? Anh có muốn em gọi dì Polly không?
- Đừng, - Tom trả lời như sắp chết, - không sao... có lẽ hết, ái... úi da!
- Anh không thể để mãi như thế được đâu.
- Nghe anh rên rỉ thế làm em đứt ruột; Đợi em...
Nhưng Tom nói cắt ngang, cặp mắt nhăn nhó vì đau đớn:.- Anh... tha thứ cho em... tất cả... Sid thân yêu ạ... Khi... anh chết rồi...
- Dì Polly, dì Polly, lại đây mau. Anh Tom sắp chết! - Sid hoảng hốt la lên.
Bà cụ lật đật chạy đến cùng với Mary theo sau gót.
- Tom, con ơi, có chuyện gì thế? Trả lời đi cháu!
- Cháu nghĩ... vết trầy của cháu... bị làm độc,... nhiễm trùng... lan rộng... nhiễm trùng máu...
Về phần bà dì, bà đã yên tâm, nói:
- Xem kìa Tom, ngón chân của cháu đâu có sưng!
- Vậy là chiếc răng của cháu, dì à...
- Sao thế, nó lung lay hả? Dì sẽ giải quyết ngay cái đó cho. Mary, đi lấy một sợi chỉ lụa và một que củi cháy cho mẹ!
Và thế là Tom phải cắp sách đi học, khuyết mất một chiếc răng. Dọc đường Tom gặp đứa bạn chí cốt của nó là Huckleberry Finn, con của một tay nghiện rượu kinh niên. Thằng bé này quần áo rách rưới, lêu lổng tùy thích, mùa hè ngủ ngoài trời, mùa đông ngủ trong một cái thùng phuy, ăn cá tự mình câu, khạc nhổ và chửi thề như bộng. Chẳng cần phải nói, các bà mẹ cấm con trai của họ giao du với nó và bọn này thì khó lòng vâng lời vì chúng quá mê cuộc sống tự do phóng khoáng đó.
- Chào Huck!
- Chào Tom! Cậu nghĩ sao? - Nó vừa nói vừa khoe một con mèo chết.
- Cừ lắm! Nhưng cái đó dùng để làm gì?
- Để trị mụn cóc. Vì tớ lúc nào cũng chơi với ếch nhái thế nên, cậu nghĩ xem, mụn cóc...
- Phải làm sao?
- Này nhé. Khi đêm xuống, cậu xách con mèo, cậu vào nghĩa địa vào ngày người ta đã chôn xong một kẻ hung ác. Nửa đêm, một con quỷ đi đến dưới hình thức một luồng gió, có khi hai hoặc ba con và khi chúng mang người chết đi, cậu vừa đong đưa con mèo theo hướng của chúng vừa tới: "Xác theo quỷ, mèo theo xác, mụn cóc theo mèo, không còn mụn cóc". Hình như làm thế là chữa tuyệt gốc! Chính mụ Hopkins đã bày cho tớ đấy!
- Phải rồi, người ta nói mụ ta có bùa phép gì đó, họ còn nói mụ đọc Kinh "Lạy Cha" lộn ngược nữa kìa. Này, chừng nào bọn ta thử?.- Đêm nay, nếu cậu muốn; chắc chắn "chúng" sẽ tới tìm lão Williams người ta chôn hôm thứ bảy. Chắc chắn "chúng" không làm việc vào ngày lễ vì vậy nhất định phải là đêm nay.
- Đồng ý, cậu sẽ kêu meo meo khi ngang qua trước nhà tớ. Miễn sao dì Polly đã ngủ là được! ạ kìa, cái gì thế hả?
- Con bọ hung.
- Cậu bán nó cho tớ được không?
- Không đâu, tớ giữ nó lại.
- Và nếu tớ đổi cho cậu một cái răng của tớ?
Sự quyến rũ quá mãnh liệt. Huck đút cái răng vào túi còn Tom bỏ con bọ vào chiếc hộp đã dùng để nhốt con gián trước kia. Hai đứa bạn chia tay, hai bên đều hài lòng về nhau.
Tom vào lớp trễ. Thầy giáo nhận xét gay gắt:
- Thế nào anh bạn, lại đi trễ như mọi khi là sao?
Tom sắp bịa ra một lời bào chữa thì nó nhận ra người đẹp của lòng mình ngồi một mình trên chiếc ghế băng, như trong một giấc mơ... với thái độ cả gan không kiêng nể, nó buông thõng:
- Vâng, em đã nói chuyện với Huckleberry Finn...
- Kìa, thằng nỡm, cậu giao du với tên hư đốn ấy lại còn khoe ra nữa hả? Đáng phạt lắm.
Hãy tới ngồi với bọn con gái đi, có thế lần sau mới chừa!
Những tiếng nhạo báng và xầm xì cất lên trong phòng không làm giảm chút nào sự khoái trá của Tom, vì nó còn đang hoa mắt trước dịp hên của mình. Tom bắt đầu tìm cách làm thân.
Mới đầu nó đưa con bé một quả đào nhưng cô ta làm nghiêm từ chối; sau đó nó bắt đầu vẽ trên bảng đá của nó. Bị thúc đẩy bởi tính tò mò, con bé nghểnh cổ nhìn và thấy một ngôi nhà dị hình, vụng về mà dù sao cô ta cũng mải mê tán thưởng:
- Ồ đẹp quá! Bây giờ bạn vẽ chân dung cho tôi đi!
Tiếp đó Tom vẽ hình một chiếc đồng hồ cát phía trên có mặt trăng tròn với hai chiếc đũa làm cánh tay và hai quả chùy làm hai chân.
- Tuyệt vời! Tôi thích biết vẽ như bạn quá chừng!
- Nếu bạn muốn, tớ sẽ dạy cho, - Tom nói ra vẻ hào hiệp. - Trưa nay nhé! Mà trước hết, bạn tên gì nhỉ?.- Becky Thatcher! Còn bạn?
- Tom, chỗ bạn bè gọi thế cũng được.
Nói xong, Tom viết nghệch ngoạc trên bảng đá và lấy cánh tay che lại như phải giữ tuyệt mật.
Chỉ sau một lúc khéo làm ra vẻ ghê tởm và giả vờ chống cự nó mới bằng lòng để ló từ từ cho Becky thấy câu nó viết. Nó đã viết: "Tôi yêu em"...
- Xí! Đồ quỷ sứ! - Con bé nói ra vẻ tức giận vừa phải.
Ngay lúc đó Tom thấy tai nó bị kéo lên và bị điệu về chỗ ngồi thường lệ bên cạnh thằng bạn thân Joe Harper của nó. Thế là nó nhớ đến con bọ hung bèn thả con bọ lên mặt bàn học.
Con bọ hung ngọ ngoạy muốn chạy đi, vì vậy Tom dùng cây kim găm bắt buộc nó quay lại.
Bây giờ con bọ chạy về phía Joe, thằng bé này cũng không muốn ngồi yên: nó cũng cầm một cây kim găm khác đẩy con bọ khốn khổ về phía Tom. Thế là một ván bóng bàn say sưa bắt đầu và chỉ bị gián đoạn khi có sự đích thân can thiệp của thầy giáo bằng cách gõ mỗi đối thủ một gậy.
Đâu có nhằm gì! Lớp học đã tan và Tom có cuộc hẹn!
Khi bọn trẻ đã ra về hết, Becky và Tom ngồi cạnh nhau, và bài học vẽ bắt đầu.
Con bé rụt rè đề nghị:
- Nếu bạn muốn, tôi có một cây kẹo cao su đây. Tôi có thể để bạn nhai một chút rồi trả lại cho tôi.
- Đồng ý. Bạn đã đi xem xiếc chưa? - Tom hỏi.
- Xem rồi, và bố hứa dẫn tôi đi nữa nếu tôi được điểm tốt trong sổ liên lạc.
- Còn tôi, tôi đã xem ít ra là bốn lần. Khi lớn lên tôi sẽ làm hề. Hình như người ta kiếm được nhiều tiền lắm, ít nhất mỗi ngày một đô la! Hỏi thật nhé, Becky đã đính hôn chưa?
- Nghĩa là sao?
- Thì cũng như người ta sẽ cưới nhau ấy mà.
- ồ, không có đâu, chẳng bao giờ.
- Bạn có muốn đính hôn với tôi không?
- Tôi muốn lắm.
- Rất giản dị: người ta hứa sẽ cưới nhau, người ta xích lại gần nhau, người ta nói "Anh yêu em" rồi người ta ôm hôn nhau.
- Tại sao người ta ôm hôn nhau..- Chuyện đó, tại sao ư? Bởi vì tất cả những người đính hôn đều làm như vậy mà.
Và thận trọng chuyển qua thế tấn công, Tom đưa tay choàng quanh người Becky. Thấy cô bé chỉ phản kháng một cách yếu ớt, nó nói nhỏ vào tai cô bé: "Anh yêu em".
- Bây giờ đến phiên Becky đó.
- Bạn sẽ không nói với ai chứ? Hứa không, thề không?
- Thánh giá gỗ, thánh giá sắt, nếu tôi nói dối, tôi sẽ xuống địa ngục!
Đến lượt mình, Becky thốt ra những lời định mệnh chấp nhận số kiếp làm vợ.
- Bây giờ chúng ta chỉ còn hôn nhau nữa thôi! - Và Tom kề môi vào má Becky.
Con bé hoảng sợ nhảy qua một bên rồi bỏ chạy. Tom nhanh nhẹn bắt con bé lại được và thuyết phục để nó hôn...
- Thế là chúng ta đã đính hôn với nhau! Bạn sẽ thấy vui lắm. Khi tôi với Amy Lawrence trước kia...
Nhìn cặp mắt xanh kia đang mở to, Tom hiểu ra nó đã vừa nói hớ một câu quá tai hại:
- Thế ra tôi không phải là người đầu tiên à?
- Becky ấp úng rồi òa khóc.
Bất chấp bao nhiêu lời dỗ dành của Tom, Becky vẫn không thể nào nguôi. Tom bèn đưa cái vật đắc ý nhất của nó ra: một cái vòng bằng đồng lấy ở giá củi trong lò sưởi.
- Này Becky, tôi tặng bạn đó.
Nhưng tình cảm bị tổn thương, cô bé ném cái vòng xuống đất. Thế là Tom tất tả bước ra khỏi trường, quyết tâm chiều nay không trở lại nữa. Còn Becky ở lại, trong lòng tràn ngập ăn năn tiếc nuối...
Tom đi vào khu rừng rậm nơi nó giấu những vũ khí đánh nhau và ngồi phịch dưới một gốc sồi, trên một nệm rêu êm ái, ngẫm xét lại nỗi bất hạnh của mình: Tại sao Becky đã đối xử với nó như với một con chó vậy chứ, trong khi nó đã tặng cho cô ta tài sản quý giá nhất của nó?
Và nếu nó biến đi một cách bí mật, nếu nó đi thật xa qua muôn trùng biển cả? Nếu nó đăng lính, hoặc hay hơn nữa, đi theo làm người săn bò rừng ở miền Viễn Tây? Và nếu nó trở thành hải tặc, khuấy động đại dương trên một chiếc tàu lướt nhanh, nhẹ nhàng như gió, treo lá cờ khủng.khiếp trên cột buồm. ừ, tiếng tăm của nó sẽ lan khắp thế giới và khi đã đạt đến cực điểm vinh quang, nó sẽ trở về làng cũ, thấy mọi người làm dấu thánh giá khi nó đi qua và thì thầm với giọng quả quyết: "Đó là Tom Sawyer, hiệp sĩ Hắc y Báo oán trên vùng biển Antilles..." Becky rồi sẽ hối tiếc là đã khinh bỉ nó biết dường nào!
Lúc đó vang lên một hồi kèn trẻ con chơi.
Tom lẹ làng cởi áo vét rồi lấy lên từ một cái hố bộ cung tên của nó, thanh kiếm gỗ và cây kèn.
Ngỏ lời với đoàn quân tưởng tượng hộ tống theo mình, nó ra lệnh chúng im lặng:
- Suỵt! Cứ nấp kín cho đến khi ta gọi.
Joe Harper vừa xuất hiện, mang đầy vũ khí...
- Đứng lại! - Tom quát lớn. - Ai dám xâm nhập rừng Sherwood mà không xin phép ta?
- Guy de Guisbonne không chờ ai cho phép cả! Còn ngươi là ai mà có giọng lưỡi đó?
- Ta là Robin des Bois, liệu hồn sẽ biết tay ta!
- Tên ngoài vòng pháp luật đấy hả? Tránh đường cho ta, đồ đê tiện!
- Không đời nào!
Thế là bắt đầu một trận chiến đúng theo quy phép. Chẳng mấy chốc, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán hai đối thủ.
- Này, bây giờ cậu phải quay lưng lại chứ. -Tom nói, thở hổn hển. - Trong sách đã ghi: "Bấy giờ, chàng tạt một nhát kiếm, giết chết tên ngạo mạn Guy de Guisborne".
- Được, được, đồng ý.
Joe miễn cưỡng đưa lưng ra chịu một nhát kiếm và ngã xuống. Rồi nó đứng phắt dậy:
- Bây giờ, đến tớ giết chết cậu. Lần lượt mỗi người chứ anh bạn!
- Đâu được! Sách đâu có nói vậy! Nghe này, tớ có ý kiến: tớ sẽ đóng vai quận trưởng Not-tingham, còn cậu sẽ là Robin và cậu sẽ giết tớ.
Sau phần phụ diễn ấy làm Joe hài lòng, Tom trở lại thành Robin des Bois. Tuy bị thương gần chết, nó vẫn thều thào mấy tiếng:
- Mũi tên này rơi ở đâu, các ngươi sẽ chôn gã Robin đáng thương ở đó...
Gom hết sức tàn, kẻ hấp hối bắn ra một mũi tên và ngã quỵ... trên một bãi tầm ma rồi nó lật đật đứng dậy.
Tới đây, hai thằng bé mặc áo lại và mỗi đứa đi cất khí giới của mình ở một chỗ riêng.
Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 2
Chương 2: Lớp học ngày chủ nhật
Nghi thức của ngày chủ nhật là bất di bất dịch. Sau bữa điểm tâm sơ sài, dì Polly đọc một đoạn trong Kinh thánh và tô điểm thêm bằng một lời bình giải rất độc đáo tự bà nghĩ ra, không chừng nhiều nhà thần học nghe cũng ngạc nhiên. Sau đó, bọn trẻ học bài trước khi sửa soạn đi dự buổi học ngày chủ nhật và lễ cầu Kinh.
Tuần này, Tom phải đọc thuộc lòng cho vị mục sư nghe năm tiết đoạn trong Kinh thánh.
Nó đã chọn "Bài thuyết giáo trên núi" vì đó là những câu ngắn nhất mà nó đã tìm ra. Nửa giờ sau, cô chị họ Mary lấy cuốn Kinh trong tay nó và đứng ra dò bài cho nó. Bằng một giọng đều đều nó bắt đầu ấp a ấp úng:
- Phúc thay cho những... những...
- Những tâm hồn chân chất, bởi chưng?
- Bởi chưng nước... ờ...
- Nước Trời dành cho họ! Sao nữa!
- ›... Phúc thay, cho những kẻ khóc, bởi chưng... Chà, bởi vì sao nhi?
- Tom! Chăm chỉ một chút đi chứ! Chị chỉ khuyên em một lời: cầm lấy sách và học đi! Nghe này: nếu em thuộc bài, chị sẽ cho em một thứ mà em rất thích.
Không đợi năn nỉ, lần này Tom bắt đầu học lại và chỉ một lát sau, nó đọc làu làu cả năm tiết đoạn.
- Đấy, em thấy khi em chuyên chú mà học thì đâu có khó gì! Phần thưởng của em đây!
Một con dao nhíp giá mười ba xu! Tom vui sướng nhảy cẫng lên và cảm tạ chị Mary, buổi học ngày chủ nhật và ông mục sư. Nhưng phút vui tưng bừng của nó không kéo dài được lâu vì dì Polly đã cất tiếng gọi, bảo nó đi rửa ráy và đóng "bộ đồ vía" vào. Tom cầm lấy chậu nước và cục xà phòng người ta đưa cho nó bước ra vườn, ào ào đánh xà phòng vào chậu rồi bắt đầu đổ cả chậu nước xuống đất. Rồi nó trở vào, hài lòng và vẫn dơ dáy như cũ. Không nói tiếng nào,.Mary lại đổ đầy chậu nước một lần nữa và đưa cho nó với vẻ mặt nghiêm khắc. Lần này Tom nhẫn nhục kỳ cọ miệng và hai má, thành ra trên cả khuôn mặt chỉ nổi rõ một vệt sáng hơn. Sau đó nó đưa tay vuốt những lọn tóc xoăn mà nó cho là không xứng với một ông tướng. Cuối cùng nó đóng bộ đồ lớn vào người và thở dài sườn sượt. Mary bèn kiểm tra lại, chải bộ quần áo, đội lên đầu nó một chiếc mũ rơm và đưa cho nó đôi giày. Nó vừa xỏ chân vào giày vừa cằn nhằn.
Ba đứa trẻ cất bước lên đường. Lớp học kéo dài từ chín đến mười giờ rưỡi, sau đó là lễ cầu Kinh. Tại trước cửa nhà thờ, Tom gặp lại các bạn bè của nó.
- Này, Billy, cậu có muốn đổi phiếu điểm vàng của cậu lấy một miếng cam thảo và một lưỡi câu không?
Việc trao đổi được thực hiện, hai bên đều thỏa mãn. Những vụ trao đổi khác tiếp tục diễn ra biến Tom thành chủ nhân một số khá nhiều điểm đủ màu. Độc giả cần biết rằng thuộc hai tiết đoạn trong Kinh thánh, được thưởng một điểm xanh; mười điểm xanh có quyền đổi lấy một điểm đỏ; mười điểm đỏ đối lấy một điểm vàng và cuối cùng được mười điểm vàng (tức là hai ngàn câu Kinh thánh) thì người trúng thưởng may mắn sẽ lãnh một cuốn Kinh thánh do ông thanh tra đích thân trao tặng, một quyền lợi đặc biệt và vinh quang! Mary nhờ thế đã chiếm được hai cuốn Kinh thánh và cô còn hy vọng giật được cuốn thứ ba.
Lúc này, bọn con gái con trai ùa vào nhà thờ, một bọn ồn ào, nghịch ngợm và vô kỷ luật:
chúng chòng ghẹo nhau, cãi vã nhau, to nhỏ với nhau... Chỉ có Mary và Sid vẫn không bị cám dỗ một cách đáng phục.
Ông Walters, thanh tra của lớp học ngày chủ nhật, hôm đó bất ngờ tới dự buổi học, cùng đi với ba vị khách tai mắt, ông thẩm phán ở xã, ông Thatcher, thẩm phán của tỉnh - ông này ngồi ghế chánh án ở tòa án tỉnh nghe nói có một cái mái bằng kẽm thật sự - và bà vợ của ông. Trước những nhân vật danh giá như thế bọn trẻ tất phải lấy làm ngưỡng mộ nên chúng cố ép mình ngồi trên ghế có phần nào yên lặng hơn mọi ngày.
Ông Walters mặt mày rạng rỡ. ông sẽ sung sướng giá như ông có thể trưng ra được một học trò thần đồng. Than ôi, khả năng có một trong.số các đứa bé này kiến thức xuất sắc lại rất mong manh, nếu không muốn nói là không có. Vào lúc mọi hy vọng dường như tiêu tan thì Tom đứng dậy, tiến lên trình cho ông Walters chín phiếu điểm vàng, chín phiếu điểm đỏ và mười phiếu điểm xanh. Tom Sawyer đòi một cuốn Kinh thánh! Dầu sét đánh trong nhà thờ cũng không làm cho ông thanh tra khả kính kinh hoảng hơn... Nhưng các phiếu ngoan rành rành đó kia, hoàn toàn hợp lệ! Thế là Tom được mời ngồi trên bục đài, bên cạnh các nhân vật quan chức và tin trọng đại đó được công bố. Trong đám con nít, các thằng bé đã đổi phiếu điểm của chúng (đổi lấy những thứ lặt vặt mà chính chúng đã cho Tom để được quét vôi hàng rào) bực tức hối tiếc đã góp phần tạo ra vinh quang cho Tom.
Ông thẩm phán tỉnh hỏi tên người anh hùng hôm đó.
- Tom, à dạ... thưa ông, Thomas Sawyer. -Người được thưởng ấp úng.
- Tốt lắm, cháu ạ, ta có lời khen ngợi cháu.
Sự học là một điều tốt đẹp và quan trọng: nó tạo nên những vĩ nhân và những công dân tốt.
Bây giờ, Thomas, cháu hãy chứng tỏ sự hiểu biết của cháu với ta và bà đây nhé! Để xem nào, chắc chắn cháu biết tên mười hai tông đồ; cháu có thể kể cho ta tên hai vị tông đồ đầu tiên là gì nào?
Mặt nhợt nhạt như xác chết, Tom chới với đưa mắt nhìn lên trời:
- Nào, cháu nói riêng cho ta nghe thôi. - Bà phu nhân xen vào, giọng ngọt ngào. - Hai tông đồ đầu tiên là...
- David và Goliath phải không ạ? - Tom nói liều, giọng yếu ớt.
Người ta đoán biết được nỗi sửng sốt nghi ngờ của ban giám khảo uy nghiêm...
Rất may, buổi thánh lễ cho Tom cơ hội quên đi sự bất hạnh của mình. Thằng bé quả thật có một kho tàng trong túi: một con gián nhốt trong cái hộp mồi câu cá. Tom liền thả côn trùng ra.
Con gián bò đến làm quen với một con chó xù đã rời khỏi đầu gối của chủ để tìm chuyện phiêu lưu. Thế là bắt đầu một điệu múa ba lê kỳ quặc:
con chó hất đầu một cái làm con gián ngã ngửa rồi nó đến gần hết sức thận trọng, đi vòng chung quanh, duỗi chân ra để nhìn cho rõ hơn.
Xét thấy con gián chẳng đáng chú ý gì cho lắm, cuối cùng nó quên đi và ngồi đè lên con.vật. Thế là một tiếng kêu đau đớn làm xáo động buổi lễ yên tĩnh và người ta thấy con chó điên cuồng đau điếng quay mòng như một ngôi sao chổi trong nhà thờ cho tới khi chủ nó rứt được kẻ hành hạ. Tất cả các tín đồ đỏ mặt tía tai vì cố nhịn cười để khỏi làm xáo trộn buổi giảng Kinh tôn nghiêm. Chẳng cần phải nói là Tom trở về nhà trong tâm trạng rất vui vẻ...
Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 1
Truyện còn có tên tiếng Anh là: The Adventures of Tom Sawyer. Được sáng tác năm 1976 bởi nhà văn nổi tiếng người Mỹ Mark Twain (1835 - 1910).
Truyện gồm 12 chương. Nội dung xoay quanh cậu bé Tom Sawyer thông minh, dũng cảm và giàu tình nghĩa.
Chương 1: Nơi chúng ta làm quen với nhân vật chính
- Tom!
Không nghe trả lời...
- To-om! Tommie! Quái! Nó lại biến đi đằng nào nhỉ?
Vẫn không có tiếng trả lời.
Bà cụ kéo trễ cặp kính xuống sống mũi và nhìn qua phía trên, xem xét kỹ gian phòng nhưng chẳng thấy thằng bé đâu cả. Bà lại đẩy kính lên trên trán và lần này, bà bắt đầu nhìn kỹ lại một lần nữa qua phía bên dưới kính. Chẳng là gì đối với một kẻ ít quan trọng như thằng cháu nhỏ của bà, thậm chí có thể nói là bà không hề bao giờ có ý nhìn thằng cháu qua cặp kính quý giá của mình. Và giá có làm như thế thì thật ra không chắc kết quả đã khá hơn, bởi vì - đáng xấu hổ và ô danh thay cái anh chàng thầy thuốc nhãn khoa hời hợt! - Rõ ràng việc chọn lựa gọng kính đã được chú trọng nhiều hơn tròng kính...
- Tom à, tao mà vớ được mày, thì tao...
Và trong khi thốt ra mấy lời đe dọa sẽ không được thực hiện như bao lời khác, bà đưa chổi khua mạnh bên dưới đồ đạc trong phòng mà thằng bé ranh mãnh có thể nấp trốn... nhưng rốt cuộc bà chỉ xua được một con mèo ra khỏi gầm giường.
Cụt hứng, bà tiu nghỉu bước đến cửa ra vào đang để mở và dán mắt nhìn kỹ các cây cà chua và cỏ dại chen nhau mọc kín cả mảnh vườn.
- Tom, lại đây ngay, ông mãnh. Còn không mày sẽ hối hận đấy!
Lời kêu gọi cương quyết này vẫn không được đáp lại như những lời kêu gọi trước. Nhưng chợt lỗ tai tinh anh của bà nhận ra một tiếng lướt qua nhẹ nhàng. Bà cụ quay gót nhanh như vụ và kịp tóm được vạt áo của kẻ chạy trốn.
- Rõ ràng là mình đã không nghĩ tới! Mày sẽ làm gì trong cái tủ ấy vậy con?
- Thưa dì, chẳng làm gì cả, cháu cam đoan.
- Vậy làm sao mà mặt mày nhoe nhoét cả thế kia?.- Thưa dì cháu không biết ạ, thật tình như vậy.
- Còn tao thì biết rõ quá mà, để tao giải thích cho mày: mày lại mó tay vào mấy lọ mứt của tao chứ gì nữa! Mày sẽ nếm thử cây roi của tao, đồ quái quỷ!
- Ối dì ơi, nhìn xem lưng dì kìa...
Bà cụ quay ngoắt người lại và chưa kịp thấy gì thì Tom đã thoát chạy, nhảy qua hàng rào của khu vườn.
Mặc dù cảm thấy thất vọng, dì Polly cũng không nén được mỉm cười:
- Chà, cái thằng nhỏ này! Lúc nào nó cũng giở trò đánh lừa mình... Và lần nào mình cũng bị mắc mưu nó cả! Với nó, mình có bao giờ lường được chuyện gì sẽ xảy đến đâu! Nó chọc ghẹo mình đến tối tăm mày mặt và đến khi mình nổi giận thật sự, nó lại làm mình phát cười hết giận, không còn đánh nó được nữa. Lạy Chúa tha tội cho con, con không làm tròn bổn phận với thằng bé này! Ngạn ngữ có câu: "Thương cho roi cho vọt" lẽ nào mình phải nghiêm khắc hơn, quả là thế, nhưng đây là con trai của em gái thân yêu của mình, than ôi, tội nghiệp nó đã mất và mình không nỡ lòng nào sửa trị thằng bé. Khi mình tha thứ cho nó, lương tâm mình trách móc vì quá dễ dãi nhưng khi phạt nó lòng mình đau khổ muôn phần... Cam đoan thế nào chiều nay nó cũng lại trốn học nữa chứ không đâu! Thôi thì, can đảm lên, Polly! Ngày mai là thứ bảy, để phạt nó mình sẽ bắt nó làm việc trong khi tất cả bạn bè của nó được chơi đùa.
Tom đã trốn học thật và chơi đùa thỏa thích quả không sai. Nó trở về vừa kịp lúc để rề rà uể oải giúp Jim, chú nhỏ da đen, cưa và chẻ củi, trong khi Sid, cậu em út của Tom tận tâm làm phần việc của nó là: gom củi vụn.
Trong lúc Tom vừa ăn vừa chờ cơ hội chớp vụng mấy tảng đường thì về phần mình, bà dì Polly nghĩ ra nhiều kế để hỏi dò nó. Bằng giọng mơn trớn ngọt ngào, bà bắt đầu cuộc tra vấn:
- À này Tom, ở trường hôm nay chắc bị nóng...
- Đúng vậy thưa dì! Nóng ngốt cả người lên nữa đấy.
- Thế mà cháu không muốn đi tắm sao?
- Ồ, không dì ạ. - Nó nói, lên mặt kẻ đạo hạnh. - Cháu đâu có muốn bỏ học!
- Thế thì làm sao mà tóc cháu ướt mèm thế kia!.- Thưa dì Polly, ấy là vì lúc ra khỏi trường, bọn cháu xịt nước máy bơm lên đầu nhau..
- Thế là tốt, dì cứ tưởng là cháu đã bỏ học để đi bơi. Vậy ra cháu không tệ như dì đã nghĩ.
Ôm hôn dì đi cháu!
Lúc đó Sid xen vào, giả bộ ngây thơ rất khéo:
- Coi kìa dì, anh ấy khéo léo ghê, bị bơm nước mà cổ áo chả bị ướt gì cả!
Cảm thấy chiều hướng bất lợi, Tom tìm cách chuồn lẹ: nó nhỏm phắt khỏi ghế, phóng đi thật lẹ, không quên đưa ngón tay lên mũi đe dọa trả thù thằng Sid đạo đức giả. Rồi gần như chẳng nhích môi, nó nói nhỏ:
- Để đó rồi có ngày sẽ biết tay ta con ạ!
Vì chỉ trong khoảnh khắc chưa kịp nói hết câu, Tom lại đã khỏi nhà.
Trên đường đi, nó đã lấy lại được vẻ vui tươi và cất tiếng huýt sáo cố bắt chước tiếng líu lo của những loài chim khác nhau. Bất chợt, trong ánh sáng chiều hè, nó bỗng thấy một kẻ lạ mặt mà chưa một ai từng thấy trong khu làng nhỏ Saint-Petersbourg yên tĩnh này. Đó là một cậu con trai trạc tuổi nó, ăn mặc kiểu cách, chân lại đi giày vào một ngày thường trong tuần! Vẻ thanh lịch kiểu thành phố của đứa bé kia, lại thêm một cái mũ kiểu mới nhất, thật hết chỗ chê, tương phản với vẻ bên ngoài lôi thôi xộc xệch và quê mùa của Tom khiến anh bạn của chúng ta bỗng nhiên nổi tức. Ngắm nghía kẻ lạ với vẻ khinh khỉnh, cậu ta buông thõng một câu:
- Không chừng tao nện cho mày một trận bây giờ...
- Làm thử xem!
- Biết tên mày là tao sẵn sàng chơi ngay.
- Nếu người ta hỏi mày tên tao là gì, mày cứ nói là không biết!
- Này thằng đội mũ, đừng làm phách không thì liệu hồn!
- Nếu mày không thích cái mũ của tao thì cứ hất nó xuống thử xem, rồi mày sẽ biết thân!
- Mày biết thân thì có!
- Đồ nói khoác!
- Chính mày nói khoác!
- Mày có muốn tao gọi anh tao ra nện cho mày một trận không?
- Tao cũng gọi anh tao cho mà xem! Búng tay một cái là anh tao cho mày bò lăn!
Cần phải nói là chẳng đứa nào có anh cả....- Mày nhìn cái đường tao vạch trên mặt đất này đây. Hãy nhìn cho kỹ vào. Nếu mày bước qua khỏi nó, tao sẽ nện cho mày một trận nhớ đời...
- Đấy, tao bước qua rồi này! Kìa, sao không nện đi? - Thằng bé kia nói ra vẻ thách thức.
Lần này Tom không lùi được nữa: nó nhảy bổ lên đối thủ và hai đứa nhỏ lăn lộn trong đám bụi mù trời. Trong chừng một phút, trận chiến bất phân thắng bại: những cú đấm đá, những cái cào cấu, những tiếng chửi rủa chẳng bên nào thua kém. Sau đó, dần dần Tom thắng thế, trồi lên ngồi kẹp hai chân như cưỡi ngựa trên mình đối thủ, và bây giờ hai tay thụi lấy thụi để. Cạn hơi kiệt sức, nửa như muốn ngạt thở trong đám bụi đất, thằng bé kia cuối cùng xin tha, trong lòng tức tối như điên. Tom để nó đứng lên.
- Tom Sawyer có lời khen mày! Chừng đó cũng đủ cho mày một bài học khi muốn xem thường người khác đấy nhé!
Và nó bỏ đi miệng vừa huýt sáo, đầu ngẩng cao.
Than ôi, khi nó về đến nhà, bà dì của nó chưa đi ngủ như nó đã tưởng và khi bà trông thấy bộ quần áo tả tơi của thằng cháu, bà càng quyết tâm ngày hôm sau sẽ phạt cầm chân nó một chỗ "vì lợi ích của nó".
Sáng thứ bảy. ánh nắng mùa hạ rực rỡ và hương thơm đồng nội ngọt ngào khêu gợi niềm vui. Chỉ một mình Tom là không chia xẻ niềm hoan hỉ của mọi người. Được trang bị với một thùng nước vôi và một chổi sơn cán dài, nó nản chí ngắm dãy tường rào bằng ván chạy dài trước mặt dường như đến vô tận.
Vừa lúc đó Jim, thằng bé da đen, bước qua khỏi cổng vườn, tay xách một cái thùng, miệng hát nghêu ngao:
- Này Jim, mày quét vôi một chút được không? Trong lúc đó tao sẽ đi xách nước...
Tom vừa mới nhớ lại việc đi lấy nước ở giếng bơm trong làng không đến nỗi khó chịu là bao, nơi đấy trong khi chờ đến lượt mình, người ta tha hồ nhởn nhơ kiếm chuyện cãi nhau khoái tỉ.
- Thưa cậu Tom, không được đâu. Bà chủ đã bảo tôi đi lấy nước và không được đổi nếu cậu yêu cầu. Tôi không dám...
- Úi chà, bà hò hét nhưng có bao giờ đánh đau lắm đâu! Nghe này, Jim, tao sẽ cho mày một viên bi, một viên bi to tướng, một cái mũ xếp...
Còn nữa, nếu mày muốn, tao sẽ cho mày xem ngón chân bị thương của tao!
Lần này, bị quyến rũ bởi hứa hẹn ấy, Jim đặt cái thùng xuống và tiến lại gần, vô cùng thích thú nhìn dải băng ngón chân đang được tháo ra...
Nhưng bất ngờ lúc đó nó cảm thấy một bàn tay giáng mạnh vào mông: đó là bà dì Polly nhắc nhở thế giới nhỏ bé của bà trở về trật tự!
Tom đang tính chuyện tiếp tục làm lại công việc lao dịch, chịu đựng nhẫn nhục buồn chán thì bỗng trong trí óc nó lóe ra một ý thần tình làm nó trở lại hoàn toàn vui vẻ, yêu đời. Đúng là Ben Rogers đang tiến lại. Trong số tất cả bạn bè của nó, Tom sợ nhất những lời chế giễu của tên này! Vừa gặm một quả táo, Ben vừa bắt chước tiếng kêu của một chiếc tàu hơi nước cập bến, đồng thời đóng vai chiếc tàu lẫn thủy thủ đoàn và thuyền trưởng.
- Xình-xịch... xình-xịch! Mọi người hãy lên boong! Xong rồi, thuyền trưởng ạ! Bính-boong, bính-boong! Cho máy lùi qua trái! Xình-xịch...
Xình-xịch! Bên trái, dừng lại! Tiến lên, qua phải!
Bên phải, dừng lại! Cho tới từ từ, từ từ! Thả neo!
Tom vẫn điềm nhiên, tiếp tục quét vôi giả vờ hăng hái rất khéo.
- Này Tom, tớ lầm to hay cậu bị phạt đấy hả?
- À, Ben đấy à. Tớ không hay cậu tới. Xin lỗi nhé, nhưng không phải ngày nào tớ cũng có cơ hội quét vôi hàng rào... Dì tớ chỉ cho tớ làm một lần thôi! Xem nào, ừ đúng, tớ nghĩ phải dặm lại một chút ở đây, thế là tốt hơn rồi!
Công việc bỗng hiện ra dưới một bộ mặt mới: sao, không phải là một việc lao dịch mà là một trò chơi thú vị, một đặc ân ư?
- Tom, cho tớ làm thử một chút đi! Đừng ích kỷ!
- Không phải là tớ không muốn, cậu hiểu cho, nhưng Jim và Sid cũng đã năn nỉ dì Polly và dì từ chối thẳng thừng. Dì muốn phải làm cho khéo kia!
- Cho tớ làm đi! Tớ sẽ cho cậu nửa quả táo của tớ, nguyên quả luôn cũng được, nếu cậu muốn...
- Để cậu làm hết luôn đấy. - Tom bĩu môi nói thong thả. - Mà thôi, với cậu thì được....Thế là, làm ra vẻ miễn cưỡng, Tom giao chổi sơn cho tên kia. Trong bụng, nó lấy làm vui sướng với tài khéo léo của mình! Nó chỉ còn chờ những nạn nhân khác, bọn này chẳng mấy chốc đến ngay. Tiền đấu giá tăng nhanh và như vậy trong khoảng chưa đầy hai tiếng đồng hồ, hàng rào được quét vôi trắng không sót chỗ nào cả, mặt trong vườn và mặt ngoài đường, còn Tom thì thu được một số hiện vật đáng kể: một chiếc diều còn sửa lại được, một con chuột cống chết buộc vào một sợi dây, mười hai viên bi, một đầu cắm còi, một chìa khóa, một cục phấn, một nút đậy bình nước, một vòng cổ chó hơi bị sứt móc, một cán dao, một vỏ cam còn nguyên vẹn và rất nhiều món khác vô cùng đáng giá.
Qua cách đùa vui và làm giàu như thế, Tom đã phát hiện ra một trong những quy luật lớn của tâm lý con người, ấy là để làm cho một người nào thèm muốn một vật thì chỉ cần đặt vật đó xa ngoài tầm tay, làm cho kẻ ấy khó với tới.
Vậy là Tom đi tìm gặp bà dì của nó, bà đang ngủ gà ngủ gật bên món đồ đan, cạnh con mèo.
- Dì ơi, cháu đã làm xong việc, cháu có được đi chơi không hả dì?
- Thế nào, cháu làm xong rồi hả? Cháu không chế giễu dì đấy chứ?
- Không đâu dì, cháu đâu dám. Dì cứ ra mà xem đi!
Ra đến nơi, bà cụ ngạc nhiên không sao tả xiết: hàng rào đã được quét đâu vào đó, không những một lớp mà đến ba lớp vôi và cả vỉa hè cũng trắng toát!
- Ấy đấy, cháu à, khi cháu muốn, cháu làm việc cũng giỏi như ai!
Để thưởng công cho nó, bà đưa một quả táo lớn trông rất ngon lành và bà không quen tô điểm bằng một bài thuyết giáo ngẫu hứng ngắn gọn, có mục đích khuyến khích và cảm hóa đứa bé. Trong lúc bà kết thúc bài giảng đạo đức bằng một câu trích dẫn từ Kinh thánh, Tom thừa cơ ngắt trộm lẹ làng một mẩu bánh ngọt và chạy mất...
Trong lòng cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái, Tom bước đi về phía chính giữa làng, tại đây nó gặp lại đạo quân của nó đang sẵn sàng giao chiến với đạo quân của Joe Harper, bạn thân nhất của nó. Trong lúc quân sĩ của hai bên sáp chiến với nhau, hai chủ soái ngồi thoải mái trên một gò cao vừa bình tâm chuyện trò vừa giám sát trận đánh. Cuối cùng, đội quân của Tom chiến thắng. Sau đó hai bên tính số tử vong, trao đổi tù binh, ấn định ngày hẹn sắp tới rồi ai về nhà nấy.
Trên đường về, Tom trông thấy trong vườn của gia đình Thatcher một cô bé duyên dáng nó chưa biết. Đôi mắt xanh dịu dàng, cặp má hồng phơn phớt và hai bím tóc vàng của cô bé làm tim nó xao xuyến phập phồng. Trước đây nó tưởng nó yêu Amy Laurence tha thiết điên cuồng nhưng kỷ niệm về cô bé ấy mới hôm nào nay đã mờ khuất trong sương mù của một thời quá khứ biền biệt trôi qua...
Làm ra vẻ như không trông thấy con bé, Tom bắt đầu biểu diễn những trò nhào lộn nguy hiểm, nghĩ thế nào cũng làm người đẹp chú ý. Than ôi! Khi liếc nhìn, cậu ta thấy cô bé đi về phía cửa vào nhà. Tom chạy vội đến cổng rào và thật không ngờ, vào lúc nó tưởng tình huống và mọi hy vọng đã tiêu tan thì cô bé mắt vẫn không nhìn, ném cho nó một bông hoa qua hàng rào.
Giả bộ uể oải, nó cúi người xuống như để xem kỹ một vật gì đó trên mặt đất rồi nhặt chiến lợi phẩm của mình lên.
Bữa cơm đã dọn sẵn. Tom ngồi vào chỗ và chẳng thèm để ý đến xấu hổ, một lần nữa nó toan chớp một ít đường. Nó liền bị khẻ vào tay.
- Dì ơi, thế là không công bình. Khi Sid lấy đường, dì đâu có nói gì?
- Vì Sid có chừng mực. Nếu ta không để ý tới cháu thì chút xíu nữa e chẳng còn tí đường nào!
Bà lại đi xuống bếp. Và muốn chế giễu ông anh của nó, Sid thọc tay vào lọ đường... và làm rơi lọ xuống đất vỡ kêu loảng xoảng. Tom khoái chí quá! Thế nào thằng em gương mẫu này cũng nhận lãnh hình phạt xứng đáng! Người ta đã nghe tiếng bước chân của bà dì Polly trở lại phòng ăn...
- Thằng ranh con, thằng vô lại, đồ quỷ quái!
- Bà cụ vừa la the thé vừa dang tay giáng Tom mấy cái tát..- Nhưng dì ơi, ái! Cháu cam đoan, ái! Không phải cháu!
- Ủa -ủa! - Dì Polly lẩm bẩm khi thấy hai má ửng đỏ đáng nghi của Sid. - Ơ hay, hóa ra không phải mày lấy trộm à?
Và bà ta quay đi, trong lòng cảm thấy ngao ngán vì đã bất công với Tom, thằng bé này quả là ranh mãnh nghịch ngợm nhưng không phải là đứa mất nết.
Về phần mình, Tom nuôi lòng hờn dỗi và nghiền ngẫm những nỗi bất hạnh. Nó tưởng tượng nó đã bệnh nặng, thậm chí sắp chết và dì nó nghiêng mình cúi xuống đầu giường van xin nó tha thứ. Hoặc nó chết đuối dưới sông thì lúc đó tiếc nuối, ăn năn cũng đã quá trễ. Sự im lặng băng giá của cái chết sẽ dìm dì Polly vào tuyệt vọng suốt đời. Miên man với nỗi buồn và những ý nghĩ đen tối bi thảm, Tom bước ra đường phố, đi lang thang không mục đích lòng trĩu nặng, tan nát bởi bao nỗi giày vò.
Ngay lúc ấy nó nghĩ đến người đẹp không quen biết đã biệt đãi và cho là nó xứng đáng với bông hoa ném ra từ bàn tay dịu dàng của cô ta.
Cuộc đời bỗng tươi sáng lên và nó bước hăng hái trở lại, đến đứng trước mặt nhà cô bé để nhìn vào. Một cửa sổ sáng đèn. Phải chăng cô ta đang ở đó? Tim đập hồi hộp, nó leo lên hàng rào, nằm dài dưới cánh cửa sổ. Nó muốn chết như vậy, dưới bầu trời thù nghịch, hoàn toàn cô đơn, bị mọi người ruồng bỏ... Bỗng cửa sổ mở ra, có tiếng léo nhéo của một bà giúp việc rồi một thùng nước lạnh buốt giội lên mình thằng bé khốn khổ. Quên hết những nỗi đau ghê gớm của phút lâm chung, cô độc, nó đứng bật lên, vừa nguyền rủa vừa nổi quạu, chạy biến vào bóng đêm. Tối đó, nó đi ngủ mà không đọc Kinh, điều này được Sid ghi nhớ kỹ…
Hy vọng không bao giờ tắt
Tại sao các bạn lại không cháy nữa? Các bạn phải thắp sáng cho đến phút cuối cùng chứ!
Có bốn cây nến đang cháy được đặt trong một tòa nhà rộng lớn. Bốn ngọn nến cháy chậm đến nỗi bạn có thể cảm nhận được từng “hơi thở” của chúng… Cây nến thứ nhất lên tiếng:
- Tên tôi là Hòa bình, ánh sáng của tôi soi sáng được mọi nơi, nhưng dường như chẳng có ai muốn tôi thắp sáng. Không ai để ý tới tôi, họ không muốn tôi có mặt.
Nói rồi ngọn nến dần tàn và tắt lịm.
Cây nến thứ hai nói:
- Tên tôi là Niềm tin, nhưng dạo này tôi không còn hữu dụng nữa. Bởi lẽ không bao lâu con người cũng chẳng còn niềm tin vào nhau nữa. Vì thế chẳng còn lý do gì để tôi chiếu sáng nữa”.
Đột nhiên, một cơn gió mạnh thổi đến và ngọn nến thứ hai cũng tắt lịm.
Với giọng buồn buồn, cây nến thứ ba thì thầm:
- Tôi tên là Tình yêu, tôi chẳng còn đủ sức khỏe gì để bừng sáng nữa. Vì người ta đã gạt tôi ra bên ngoài. Mọi người chỉ biết đến chính họ, thậm chí con người còn quên cả việc dành yêu thương cho những người xung quanh.
Rồi không chờ đợi lâu, ngọn nến Tình yêu cũng vụt tắt.
Bất chợt một cậu bé đi vào phòng và nhìn thấy ba ngọn nến đã tắt. Cậu khóc và nói: “Tại sao các bạn lại không cháy nữa? Các bạn phải thắp sáng cho đến phút cuối cùng chứ?”
Ngọn nến thứ tư thấy vậy lên tiếng: “Đừng sợ cậu bé, ta là Hy vọng, ta vẫn ở đây và thắp sáng. Chúng ta có thể hồi sinh các ngọn nến còn lại”.
Ánh mắt cậu ngời sáng khi nghe câu nói của Hy vọng. Cậu lại gần lấy ngọn nến thứ tư đi thắp sáng những ngọn nến đã tắt và ánh sáng dần lan tỏa khắp căn phòng.
Bạn thân mến, cuộc sống của chúng ta đang ngày một thay đổi. Nhưng cũng vì đó mà con người ngày một sống nhanh hơn và dần thờ ờ với cuộc sống xung quanh. Điều này phải chăng đã khiến ngọn nến của Hòa Bình, của Niềm Tin, của Tình Yêu tắt lịm nơi tâm hồn con người?
Xin đừng quá lo lắng vì chắc hẳn trên đời này còn biết bao người đang tiếp tục công việc của cậu bé – thắp lên niềm Hy vọng trên những ngọn lửa của Hòa bình, Niềm tin và Tình yêu. Vì thế, trên thế giới vẫn đang có biết bao sứ giả đang mang niềm Hy vọng cho nhân loại và cho thế giới hôm nay.
Bức tranh quý giá nhất
Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông. Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng. Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.
Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu chuyện xảy ra…
Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con mình.
Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người. Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh. Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai tay cầm một bọc lớn.
Chàng trai nói “Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặng cho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu.”
Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất vẫn treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai “Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này.”
Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian. Cuối cùng thì buổi bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác phẩm nổi tiếng. Toà nhà bán đấu giá đầy người. Người điều khiển đứng lên và nói “Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu tiên sẽ là bức chân dung này…”
Có người la lên “Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?”
Người điều khiển nói “Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!”
Người điều khiển bắt đầu “Ai sẽ mua với giá $100?”
Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp “Ai sẽ mua với giá $50?”
Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi “Có ai mua với giá $40?”
Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi “Không ai muốn trả giá cho bức tranh này sao?” Một người đàn ông già đứng lên “Anh có thể bán với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý không?”
Người điều khiển nói “$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!”
Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau “Chúng ta có thể bắt đầu thật sự được rồi!” Người điều khiển nói “Xin cảm ơn mọi người đã đến. Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta sẽ dừng tại đây!”
Đám đông nổi giận “Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng kia mà?” Người điều khiển nói “Tôi xin lỗi nhưng buổi bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây, NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!”
Khát vọng của Edwin C Barnes
![]() |
| Barnes - bên trái Edison - bên phải |
Bất kỳ ai muốn thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải sẵn lòng đốt con thuyền của mình và cắt đứt mọi con đường có thể rút lui. Đó là cách duy nhất để đảm bảo duy trì trạng thái tinh thần khát khao chiến thắng, điều kiện cần thiết để vươn tới thành công.
Khi Edwin C. Barnes bước xuống ga tàu hỏa ở West Orange, New Jersey, bề ngoài của anh trông có vẻ giống như một kẻ lang thang, nhưng trong trí tuệ của kẻ lang thang ấy ẩn chứa tư tưởng của một ông hoàng.
Trong lúc Barnes đi từ đường ray xe lửa đến văn phòng của Thomas A. Edison, tâm trí anh luôn hoạt động. Anh mường tượng ra cảnh mình đang đứng trước Edison. Barnes như nghe thấy anh đang yêu cầu Edison cho mình một cơ hội để thực hiện nỗi ám ảnh chi phối suốt cuộc đời, nỗi khát khao cháy bỏng được trở thành người hợp tác kinh doanh với nhà phát minh vĩ đại.
Khát vọng của Barnes không chỉ là một niềm hy vọng, cũng không chỉ là một niềm mong ước. Đó là nỗi khát khao sôi sục chảy trong huyết quản của anh. Nỗi khát khao rõ ràng và kiên định ấy mạnh hơn bất kỳ điều gì khác.
Vài năm sau, Edwin C. Barnes lại đứng trước Edison, cũng ở trong căn phòng nơi anh đã gặp nhà phát minh lần đầu tiên. Lần này thì khát vọng của anh đã thành hiện thực. Anh trở thành người hợp tác kinh doanh với Edison. Giấc mơ chi phối cuộc đời anh đã được hiện thực hóa.
Barnes thành công vì anh đã lựa chọn cho cuộc đời mình một mục tiêu rõ ràng, dành hết năng lượng, sức mạnh ý chí, nỗ lực cá nhân và tất cả những gì anh có để đạt bằng được mục tiêu đó.
Trong quãng thời gian năm năm trước khi cơ hội mà Barnes tìm kiếm xuất hiện (quãng thời gian anh chỉ làm công ăn lương trong văn phòng Edison), với mọi người, anh chỉ như một bánh răng nhỏ trong guồng máy kinh doanh của Edison. Nhưng trong thâm tâm Barnes, anh luôn là đối tác của Edison và cách nghĩ ấy nung nấu từng giây từng phút ngay từ ngày đầu tiên anh làm việc ở văn phòng của Edison.
Đó là một ví dụ điển hình minh họa cho sức mạnh của một khát vọng rõ ràng và mãnh liệt. Barnes đã đạt được mục đích vì anh muốn trở thành người cộng tác kinh doanh với Edison hơn bất kỳ điều gì khác. Anh đã vạch ra một kế hoạch nhằm đạt được mục đích đó và không bao giờ lùi bước. Anh kiên định giữ vững niềm khát khao của mình cho đến khi nó trở thành một nỗi ám ảnh và cuối cùng biến thành sự thật.
Khi đến West Orange, Barnes không tự nhủ rằng: “Mình sẽ thuyết phục Edison cho mình một công việc kiểu gì cũng được”, mà anh tự khẳng định với bản thân mình : “Mình sẽ gặp Edison và làm cho ông ta nhận ra rằng mình đến để cùng kinh doanh với ông”.
Anh không nói rằng: “Trong trường hợp thất bại, mình sẽ tìm kiếm một cơ hội khác”, mà anh nói: “Chỉ có một điều trên thế gian này mà mình quyết tâm phải đạt cho bằng được, đó là được cộng tác kinh doanh với Edison. Mình sẽ thiêu rụi tất cả những cây cầu sau lưng và đánh cuộc toàn bộ tương lai vào khả năng của bản thân để đạt được những gì mình muốn”.
Anh không để lại cho mình một con đường để rút lui. Anh phải thành công hay là chết. Đó chính là lý do giải thích cho câu chuyện thành công của Barnes.
Trích trong: "Think and Grow rich" - Napoleon Hill
Đích đến
![]() |
| Florence May Chadwich (1918 - 1995) |
Đó là một buổi sáng sương mù phủ kín, ngày 4 tháng 7 năm1952, khi Florence Chadwick bước xuống nước bơi vượt eo biển từ đảo Catalina đến bờ biển California. Bơi đường trường không phải là một điều mới lạ đối với Florence, bởi cô từng vượt biển Manche (giữa nước Anh và Pháp) ở cả hai chiều.
Buổi sáng hôm đó nước lạnh cóng, còn sương mù thì dày đến nỗi cô khó có thể nhìn thấy chiếc thuyền trong đoàn. Sau khi đã bơi hơn 15 tiếng đồng hồ, cô yêu cầu mọi người kéo cô lên thuyền. Huấn luyện viên của Florence ráng hết sức để động viên cô bởi họ đã rất gần bờ, nhưng cô chỉ nhìn thấy sương mù và sương mù. Cuối cùng cô bỏ cuộc... khi cách bờ không tới nửa dặm.
Sau đó cô tâm sự: "Không phải tôi biện hộ cho mình, nhưng nếu tôi nhìn thấy bờ, tôi đã có thể bơi đến đích". Không phải cái lạnh hay sự sợ hãi, hay sự kiệt sức đã khiến cho Florence Chadwick thất bại, mà chính là sương mù.
Hai tháng sau cũng chính tại eo biển đó, cũng là khoảng cách đó, Florence Chadwick đã lập một kỷ lục mới, bởi vì giờ đây cô có thể nhìn thấy đất liền.
Nhiều lúc chúng ta cũng thất bại, không phải vì chúng ta sợ hay bởi áp lực của những người xung quanh hay tại bất cứ điều gì, mà chỉ vì chúng ta không nhìn thấy rõ mục tiêu của mình.





