Archive for tháng 3 2013

Dám mơ ước

Dám mơ ước

Tôi có một người bạn tên Monty Robert, hiện là chủ nhân một trại nuôi ngựa ở San Ysidro. Anh đã cho phép tôi dùng nhà của anh để tổ chức những buổi gây quỹ nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư có tính rủi ro cao do thanh niên thực hiện.

Một hôm, anh đến ngồi cạnh tôi và nói:

- Tôi muốn kể cho bạn biết tại sao tôi để bạn sử dụng nhà của tôi để làm nơi tổ chức gây quỹ.

Chuyện xảy ra cách đây nhiều năm. Có một cậu bé sống cùng với cha của mình, một người làm nghề huấn luyện ngựa. Do công việc, người cha phải sống như một kẻ du mục. Ông đi từ trang trại này đến trang trại khác để huấn luyện các chú ngựa chưa được thuần hoá. Kết quả là việc học hành của cậu bé không được ổn định lắm. Một hôm, thầy giáo bảo cậu bé về viết một bài luận văn với đề tài "Lớn lên em muốn làm nghề gì?".

Đêm đó, cậu bé đã viết bẩy trang giấy mô tả khát vọng ngày nào đó sẽ làm chủ một trang trại nuôi ngựa. Em diễn đạt ước mơ của mình thật chi tiết. Thậm chí em còn vẽ cả sơ đồ trại nuôi ngựa tương lai với diện tích khoảng 200 mẫu, trong đó em chỉ rõ chỗ nào xây nhà, chỗ nào đặt làm đường chạy cho ngựa.

Viết xong, cậu bé đem bài nộp thầy giáo. Vài ngày sau, cậu bé nhận lại bài làm của mình với một điểm 1 to tướng và một dòng bút phê đỏ chói của thầy "Đến gặp tôi sau giờ học".

Thế là cuối giờ cậu bé đến gặp thầy và hỏi:

- Thưa thầy, tại sao em lại bị điểm 1?

- Em đã hoạch định một việc mà em không thể làm được. Ước mơ của em không có cơ sở thực tế. Em không có tiền, lại xuất thân từ một gia đình không có chỗ ở ổn định. Nói chung, em không có được một nguồn lực khả dĩ nào để thực hiện những dự tính của mình. Em có biết để làm chủ một trại nuôi ngựa thì cần phải có rất nhiều tiền không? Bây giờ tôi cho em về làm lại bài văn. Nếu em sửa chữa cho nó thực tế hơn thì tôi sẽ cứu xét đến điểm số của em. Rõ chưa?

Hôm đó, cậu bé về nhà và nghĩ ngợi mãi. Cuối cùng cậu gặp cha để hỏi ý kiến.

-Con yêu, chính con phải quyết định vì ba nghĩ đây là ước mơ của con.

Nghe cha đáp, cậu bẻ liền nhoẻn miệng cười và sau đó đến gặp thầy giáo của mình.

- Thưa thầy, thầy có thể giữ điểm 1 của thầy, còn em xin được giữ ước mơ của mình.

Kể đến đây Monty dừng lại và hỏi tôi:

- Bạn có biết bạn đang ngồi trong một trại ngựa rộng 200 mẫu của cậu bé trong câu chuyện mà tôi vừa kể không? Cách đây hai năm, vị thầy giáo đó đã tình cờ dẫn 30 học trò của mình đến đây để cắm trại. Thế là thầy trò tôi nhận ra nhau. Cầm tay tôi, thầy nói:

"Monty này, khi anh còn học với tôi, tôi đã đánh cắp ước mơ của anh, và suốt bao nhiêu năm qua tôi cũng đã làm thế với bao đứa trẻ khác, tôi rất ân hận về điều đó."

Nghe thầy nói thế, tôi vội đáp:

"Không, thưa thầy, thầy không có lỗi gì cả, chẳng qua thầy chỉ muốn những gì tốt đẹp sẽ đến với học trò của mình mà thôi. Còn em chỉ muốn theo đuổi tới cùng những khát vọng của đời mình."
Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013
Posted by Unknown

Ý nghĩa của mục tiêu

Ý nghĩa của mục tiêu

Nếu bạn nản lòng khi gặp thất bại, xin hãy đọc câu chuyện sau. Bạn sẽ thấy đạt được mục đích nhiều khi chưa hẳn là điều quan trọng nhất. Tôi sẽ giải thích vì sao.

Có hai anh em nhà nọ quyết định đào một cái hố sau nhà. Trong khi hai anh em đang đào, có vài cậu bé hàng xóm đi qua và dừng lại xem.

Các cậu làm gì vậy?” Một cậu hàng xóm hỏi.

Bọn tớ định đào một cái hố xuyên qua trái đất!” Người em hồ hởi trả lời.

Các cậu bé hàng xóm ôm bụng cười chế giễu và nói với hai anh em rằng việc đào một cái hố xuyên qua trái đất là điều không thể.

Sau một lúc im lặng, người anh đưa cho các cậu bé hàng xóm xem một chiếc lọ đựng đầy nhện, giun và các loại côn trùng. Cậu nói với giọng bình thản và đầy tin tưởng: “Cho dù bọn tớ không đào được một cái hố xuyên qua trái đất, nhưng các cậu có thấy những thứ bọn tớ có được trong khi đào có tuyệt vời không.

Mục tiêu của hai cậu bé quá xa vời, nhưng chính nhờ có mục tiêu mà hai cậu đã đào cái hố một cách hăng say. Và đó cũng chính là ý nghĩa của một mục tiêu: nó thôi thúc ta tiếp bước trên con đường đã chọn.

Không phải mọi mục tiêu đều có thể đạt được. Không phải mọi công việc đều kết thúc thành công. Không phải mọi mối quan hệ đều bền vững. Không phải mọi hi vọng đều đến bến đến bờ. Không phải mọi tình yêu đều là mãi mãi. Không phải mọi giấc mơ đều thành hiện thực.

Nhưng khi bạn chưa đạt được điều mình muốn, bạn có thể tự hào nói, “Đúng vậy, tôi chưa đạt được điều tôi muốn. Nhưng những gì tôi có được trong cuộc hành trình đi đến mục tiêu của mình, những gì tôi có được từ sự cố gắng của bản thân thật là tuyệt vời!”

Có người nói: “Thành công là một hành trình, không phải là một điểm đến.” Và tôi tin rằng, không phải là cái đích ở cuối con đường, mà chính là niềm vui ta có được trong cuộc hành trình mới thực sự là điều quan trọng.
Posted by Unknown

Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 12 (Hết)

Tom Sawyer
Chương 12:   Kho báu 

Joe Da đỏ được chôn xong, ngày hôm sau Tom kéo Huck ra một chỗ vắng. Bà Douglas cuối cùng đã cho Huck biết tất cả mọi chi tiết cuộc phiêu lưu bi thiết của Tom và Becky trong hang đá. Nhưng có một điều mà Tom đã nhất quyết giữ kín và vì vậy không ai có thể kể lại với Huck. Chính đó là điều bây giờ Tom muốn đem ra nói chuyện với bạn thân của nó. 

Huck rầu rĩ vì đã để mất cơ hội tốt đẹp trong đời hai đứa, lớn tiếng than : 

- Tom à, nếu tớ hiểu đúng thì cậu đã đến số hai và cậu sẽ thấy chỉ có rượu wít-ky... Tớ cũng nghĩ kỹ là giá cậu gặp được kho báu, thì ắt cậu đã tìm cách kín đáo cho tớ hay. Tớ có linh tính mình sẽ không bao giờ thấy lại số tiền ấy nữa... 

Giọng vui vẻ của Tom trái ngược với giọng buồn thảm của Huck : 

- Cậu nói sao lạ vậy! Tớ có bao giờ đến quán trọ ấy đâu. Cậu nhớ không, đêm tớ đi píc-níc cậu đứng canh kia mà! 

- À điều đó tớ nhớ ra rồi! Đúng là đêm đó tớ theo Joe Da đỏ đến nhà bà Douglas! 

Rồi Huck kể toàn bộ cậu chuyện cho Tom nghe vì Tom chỉ biết những gì ông già người xứ Galles kể nên không biết vai trò của Huck tham dự trong vụ này. Huck trở lại điều nó quan tâm trước tiên : 

- Vậy là chắc chắn người trông thấy rượu đã cuỗm luôn số tiền ấy. Số đen lại gặp vận rủi rồi! 

- Huck này, có thể kho báu không bao giờ có ở quán trọ. Nó không ở trong hang đá thì chặt tay tớ đi! 

- Nhắc lại xem... 

- Tiền ở trong hang đá - Tom nói rõ từng tiếng một - Và nếu cậu muốn, chúng mình sẽ đi kiếm nó... 

- Sao tớ lại không muốn? Muốn cả hai lần đấy! Nhưng cái gì làm cậu nghĩ là chúng mình sẽ tìm ra được? 

- Nghe này, ông bạn, hãy tin tưởng vào tớ: nếu bọn mình không tìm ra được tiền, tớ sẽ cho cậu cái trống của tớ và tất cả những gì của tớ hiện có. Đồng ý không? 

- Đồng ý. Này... cậu bảo đảm với tớ là bọn mình sẽ không bị lạc đường chứ? 

- Cậu sẽ thấy, không có gì rắc rối cả. Cậu đã khỏe lại phần nào rồi chứ? 

- Tớ mới đỡ được hai ba hôm nay. Xem chừng tớ cảm thấy chỉ đủ sức đi một hai cây số, không xa hơn được. 

- Bọn mình sẽ đi bằng đường sông, như vậy cậu sẽ không bị mệt. Chúng mình phải đem theo đồ ăn, mấy cái túi xách, ba sợi dây thả diều và diêm quẹt. 

Vào đầu buổi chiều, hai đứa mượn một chiếc xuồng của một người ở ven sông không có ở nhà. Chúng lên xuồng, thả trôi theo dòng nước nhiều cây số cho đến khi gặp chỗ đá lở thì cặp xuồng vào. Miệng hang mà Tom và Becky đã thoát ra mấy hôm trước đây nằm gần đó, bị che khuất sau đám thù du rậm rạp. 

- Đó kìa Huck. Cậu nhìn cái lỗ đó có đúng là một sào huyệt tuyệt hảo cho bọn cướp không nào? Tớ lúc nào cũng mơ làm kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Chúng ta sẽ kéo theo Joe Harper và Ben Rogers lập thành một băng đảng. “Băng của Tom Sawyer” nghe rất oai, cậu nghĩ sao? 

- Tuyệt đấy! - Huck chặc lưỡi tán thưởng - Nhưng bọn mình sẽ cướp của những người nào nhỉ? 

- Ồ, tất cả những ai rơi vào tay ta. 

- Sau đó, ta giết hết những người ấy sao? 

- Không, không bắt buộc như vậy; chúng ta có thể đòi tiền chuộc chẳng hạn. Nếu sau một năm mà người ta không trả tiền chuộc, lúc đó ta sẽ tính. Dầu sao ta cũng không giết phụ nữ. Chúng ta lấy hết nữ trang của họ và tất cả những gì họ có nhưng chắc chắn là chúng ta đối xử với họ một cách hào hoa phong nhã, trong sách nói như vậy. Và cuối cùng họ còn có thể đâm ra si tình những kẻ cưỡng đoạt họ. Không còn cách nào rứt họ ra được: đuổi họ, họ cũng trở lại. 

- Vậy là cừ lắm. Hơn hẳn làm hải tặc! 

- Ừ, nhất là ta không quá đi xa nhà, rồi còn được xem xiếc, đủ thứ chuyện... 

Trong khi trò chuyện, hai tay cướp tương lai đã vào miệng hang và đi tới cuối hành lang, vừa đi vừa tháo cuộn chỉ ra. Một lát sau, chúng đến chỗ mạch nước: Tom chỉ cho Huck thấy mẩu chót của khúc nến soi sáng cho nó và Becky trước khi chúng chìm hẳn vào bóng tối. Rùng mình nhớ lại, hai đứa bé tiếp tục đi. Được một lúc, Tom dừng lại, đưa cao cây nến và nói : 

- Huck, bây giờ cậu nhìn kỹ ở đáy gian hầm này. Cậu thấy cái gì vẽ bằng khói nến ở trên cao ấy không? 

- Một thánh giá phải không? 

- Đúng, một thánh giá! Chính chỗ đó, dưới tảng đá đó, tớ đã thấy Joe Da đỏ đi qua. 

- Tom à, bọn ta đi thôi, tớ van cậu. ắt hồn ma của hắn đang canh chừng... 

- Thôi đi Huck, Joe Da đỏ đã chết cách đây tám cây số kia mà; đâu có nguy cơ gặp hồn ma trong hành lang này. 

Nhưng Huck không bỏ ý kiến ấy : 

- Không, tớ cam đoan hồn ma lúc nào cũng lảng vảng gần kho báu của chúng, điều đó ai cũng biết. 

Dần dần Tom cũng bị nghi hoặc và lo ngại xâm chiếm. Nhưng nó bỗng nảy ra một ý sáng suốt : 

- Chúng ta ngu quá Huck à! Không bao giờ hồn ma của Joe Da đỏ dám thò mặt ra chỗ có thánh giá đâu! 

Và thế là trở lại bạo dạn, Tom vững lòng tiến đến bên tảng đá; Huck bước đi theo sau nó. 

Ở trong gian hầm có bốn hành lang ăn thông với nó. Hai đứa bắt đầu thám sát các hành lang. 

Ba cái đều chẳng thấy có gì cả... Trong hành lang thứ tư chúng thấy có các nệm rơm, chăn, dây đeo quần áo, đồ ăn thừa nhưng không có cái rương. 

- Và biết đâu cái rương ở dưới tảng đá không chừng? Cậu nhớ lại xem. Hắn đã nói “dưới cây thánh giá”. 

Tom cầm lấy cây xẻng và bắt đầu đào dưới lớp đất sét. Chỉ một lúc sau là lưỡi xẻng đụng phải một vật gì bằng gỗ... 

Huck giằng lấy dụng cụ trong tay Tom và đào tiếp. Chúng phát hiện vài mảnh ván che khuất một cái hầm tự nhiên tiến thẳng xuống bên dưới tảng đá. Tom cầm cây nến đưa thẳng về phía trước, cố nhìn đáy hầm nhưng chỉ khi nó bò lom khom chui vào nó mới trông thấy... 

Một cái rương! Bên cạnh cái rương có một thùng nhỏ đựng thuốc súng, hai cây súng trường, những đôi giày cũ và nhiều đồ vật linh tinh khác ướt đẫm nước trong đá rỉ ra. Cái rương không đóng nắp. Huck thọc hai tay vào các đống tiền và cho chúng lọt qua kẽ tay mà không biết chán. Nó thở dài thoải mái : 

- Ôi dà! Thế là chúng mình giàu rồi, Tom ơi! Cuộc sống huy hoàng thuộc về chúng ta! 

- Này Huck, không nên chần chừ ở đây. Thử xem chúng mình có thể nhấc cái rương lên được không. Hừm, nặng quá, tớ đã nghi vậy mà. Vì thế nên tớ đã cẩn thận đem theo mấy cái túi đây. 

Bỏ vàng vào bao xong, Huck chỉ hai cây súng. 

- Không, ta cứ để súng ở đây đến khi ta trở thành tướng cướp. Cái đó sẽ thích hợp lắm. 

Sau một lúc di chuyển chậm chạp, hai đứa ra khỏi hang. Quan sát không thấy ai có thể bắt gặp, chúng xuống xuồng với đầy của quý. Chúng vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ. Chúng đợi mặt trời lặn rồi mới khởi hành ra về. Tom bảo : 

- Kế hoạch của tớ như vầy. Tớ sẽ đi tìm chiếc xe đẩy của Ben, ta sẽ bỏ hai cái túi lên xe, lấy giẻ rách che các túi lại rồi đem giấu chúng bên trên nhà để củi của bà Douglas. Ngày mai, ta sẽ tìm một chỗ giấu an toàn hơn ở trong rừng. 

Hai đứa trẻ đã thực hiện được phần nửa kế hoạch. Khi đến ngang nhà ông lão người xứ Galles chúng bị gọi lại : 

- Ai đó? 

- Bọn cháu, Tom và Huck đây. 

- Hay quá! Ta đang tìm các cháu đây. Đi theo ta các cháu. Ta sẽ kéo xe giúp các cháu. 

Nhưng các cháu chở cái gì thế hả? Gạch ư? Hay là sắt vụn? 

- Dạ... sắt vụn. - Tom buột miệng trả lời. 

- Ta nhanh lên thôi. Mọi người đang đợi chúng ta ở nhà bà Douglas đấy! 

Đã quen bị buộc tội bất công về đủ chuyện xấu xa, Huck bèn chống chế : 

- Cháu có làm chuyện gì bậy đâu! 

Ông già bật cười ha hả : 

- Có ai tố cáo cháu cái gì đâu nào? Cháu sợ điều gì? Cháu có quan hệ tốt với bà Douglas kia mà! 

- Thật tình, lúc nào bà ấy cũng tử tế với cháu. 

- Vậy là ổn thỏa. Chúng ta đi thôi. 

Hai thằng bé không kịp hỏi sự thể có nghĩa là thế nào: chúng bị đẩy ngay vào phòng khách của người phụ nữ nhân hậu. Lão Jones để chiếc xe trước cửa nhà rồi bước vào trong phòng khách đèn đốt sáng trưng và các nhân vật tai mắt trong làng đã tề tựu đủ mặt: Bên cạnh dì Polly có Sid và Mary, gia đình Thatcher, gia đình Harper, gia đình Rogers, ông mục sư và nhiều người khác, tất cả đều chưng diện quần áo đẹp nhất. Dì Polly quắc mắt nhìn Tom áo quần lấm bẩn đầy đất sét và mỡ nến. 

Ông lão người xứ Galles giải thích : 

- Cháu nhỏ của bà không có ở nhà. Lúc tôi sắp bỏ ý định tìm nó thì gặp Tom và Huck ngay trước cửa nhà tôi. Tôi đưa ngay chúng lại đây. 

- Ông làm vậy là rất phải. - Bà Douglas tán thành. 

Rồi bà nói với hai đứa nhỏ rách rưới : 

- Lại đây, các cháu, chúng ta lên gác. Trên đó có chỗ các cháu rửa ráy và thay quần áo. Hai bộ com-lê mà cháu sẽ thấy là dành cho Huck: đó là quà của ông Jones và của chính tôi đấy.. Nhưng Tom và Huck đều mặc vừa cả. Xong xuôi, hãy xuống đây ngay. 

Còn lại hai đứa với nhau, chúng trao đổi cảm tưởng : 

- Tom này, cửa sổ cách mặt đất không cao. Bọn mình có thể lẳng lặng chuồn đi... 

- Làm quái gì mà cậu muốn trốn? 

- Tớ không quen lui tới cái thế giới sang trọng như thế này. Tớ muốn trốn đi quá... 

- Không sao, đừng ngại: tớ sẽ lo cho cậu. 

Nói xong những lời trấn an đó, Tom kéo Huck xuống phòng khách. 

Buổi chiêu đãi có thể bắt đầu: trước mặt mọi người bà Douglas không ngớt cám ơn ông già xứ Galles cùng các con trai của ông đã cứu bà thoát khỏi móng vuốt của Joe Da đỏ và tên đồng mưu của y. Ông Jones trước đó đã đòi cho Huck có mặt ở buổi tiệc vui, bây giờ long trọng tiết lộ vai trò của cậu bé trong vụ này. Huck được khen ngợi và trọng vọng đến nỗi mặt mày đỏ ửng như trái cà chua. Bây giờ mọi ánh mắt đều đổ dồn về nó làm nó không thấy dễ chịu chút nào. Mặc bộ đồ mới vào nó đã thấy ngượng nghịu lắm rồi. 

Bà Douglas, rối rít cảm ơn, tuyên bố bà muốn chăm lo dạy dỗ Huck và dự định khi để dành đủ tiền, bà sẽ mở cho nó một cửa hiệu nhỏ. 

Lúc đó Tom nói xen vào. Đã đến lúc tiết lộ cho mọi người đều biết. Nó nói một cách hờ hững bất cần : 

- Huck không cần điều đó. Cậu ta bây giờ giàu có, giàu không thể tưởng, hơn tất cả quý vị ở đây. 

Chỉ vì lịch sự xã giao và là những người có giáo dục tốt nên những người tham dự cảnh này mới không đáp lại sự hợm hĩnh buồn cười đó bằng một tiếng cười phì xứng đáng. 

- Quý vị không tin tôi nói sao? - Tom tiếp lời. - Xin đợi một chút... 

Tom chạy vụt ra ngoài. Các khách mời của bà Douglas ngơ ngác nhìn nhau. Còn Huck thì không hé răng. Dì Polly ngồi đứng không yên, hai bàn tay xoa nhau quấn quít, cất tiếng than nho nhỏ : 

- Sid à, Tom nó làm gì vậy? Nó đi đâu? Thằng bé làm ta khổ tâm mà chết thôi! 

Không lâu sau, Tom trở vào, lễ mễ ôm hai cái túi nặng. Khi nó trút hai cái túi ra bàn, nó tỏ vẻ đắc thắng nhìn mọi người như bị thôi miên trước đống vàng to tướng. 

- Đấy, phân nửa là của Huck, phân nửa kia của tôi. Tôi đã nói với quý vị là Huck giàu có mà! Bây giờ quý vị có tin tôi chưa nào? 

Và không đợi mời, Tom kể tỉ mỉ cuộc phiêu lưu mới của nó đi vào hang đá. 

Ông già người xứ Galles phát biểu cảm tưởng chung : 

- Tôi tưởng tôi dành cho quý vị một sự ngạc nhiên nhân buổi lễ nhỏ này. Tôi buộc lòng phải nhìn nhận rằng, so với sự bất ngờ mà Tom dành cho quý vị, sự bất ngờ của tôi chẳng thấm vào đâu cả! 

Người ta bèn đếm các đồng tiền: có đến hơn mười hai ngàn đô la! Không một ai trong số các người tai mắt đang có mặt đã từng thấy một số tiền lớn nhiều đếu thế, dẫu cho gia sản của họ lớn bao nhiêu đi nữa. 

Tin về sự giàu có của Tom và Huck gây chấn động mạnh chưa từng có trong làng. Người ta bàn tán, mơ tưởng đến nó, đầu óc bốc lửa. 

Và không một ngôi nhà hoang phế nào trong vùng, dầu có ma hay không, lại chẳng bị lục lọi tơi bời, tháo gỡ, phá nát. Mà đấy không những là những đứa bé con thích phiêu lưu mạo hiểm, còn có những người lớn, trong số đó có kẻ từ trước đến nay chưa hề bị nghi ngờ loạn trí hay mang mầm mống điên khùng... 

Tom và Huck đã trở thành những anh hùng thật sự. Người ta say mê nghe chúng nói, lập lại những gì chúng kể, dán mắt nhìn chúng đi ngoài đường. Người ta theo dõi đời sống của chúng và dĩ nhiên nhìn ra những dấu hiệu báo trước một số mệnh đặc biệt. Tờ báo địa phương còn dành cho chúng nguyên cả một trang. Nói tóm lại, đó là vinh quang, danh tiếng lừng lẫy... 

Như vậy là số phận hai đứa trẻ đã được bảo đảm. Bà Douglas đã ký gởi tiền cho Huck với lãi sáu phân và theo yêu cầu của dì Polly, ông Thatcher cũng làm như vậy đối với số tiền của Tom. Ngoài ra, bố của Becky - Ông ta đã coi trọng Tom từ khi nó đem được con gái ông ra khỏi hang đá - còn hứa sẽ lo cho nó được nhận vào Trường võ bị và như vậy sẽ mở đường cho nó đi vào nghề sĩ quan hay làm luật gia. Về phần Huck, bà Douglas hứa đưa nó đến một cuộc sống văn minh hơn, dưới sự chăm sóc của bà. 

Không cần phải nói, chẳng được bao lâu Huck đâm ra tiếc nuối cuộc sống tự do vô tư lự của nó trước đây. Quả thật cuộc sống mới đối với nó dường như là một ác mộng thật sự: các bà vú của bà Douglas săn sóc nó từng li từng tí, nào tắm rửa, chải gỡ tóc cho nó, trang sức cho nó, mỗi tối bọc nó trong những tấm khăn giường ngủ trắng tinh đến não lòng... Ngoài ra, nó còn phải ăn với một cái nĩa và một con dao, lau miệng bằng khăn, uống bằng cốc thủy tinh, đi học, nói năng đúng phép, đi lễ nhà thờ và hàng ngàn cực hình khác tương tự. 

Huck chịu đựng nỗi thống khổ đó trong ba tuần, sau đó nó đột ngột biến mất. Bà Douglas tuyệt vọng, kiếm tìm nó khắp nơi. Người ta lùng khắp miền quê, kiếm ở mé sông... Cuối cùng Tom đi đến chiếc thùng phuy nơi ở của Huck trước khi khám phá kho báu. Kẻ đào tẩu đang ở đó, ngồi thoải mái, hả hê phì phèo ống vố. Nó dơ bẩn, đầu tóc bù xù, mặc quần áo của thời kỳ sung sướng rách bươm. Tom tìm cách thuyết phục nó về nhà. 

- Này Tom, tớ không thể chịu đựng cuộc sống như thế nữa: bao nhiêu tài sản tớ cho cậu hết và yêu cầu người ta để cho tớ yên. Tớ chỉ yêu cầu chừng đó thôi! 

Hai đứa trẻ thương lượng. Cuối cùng Huck chỉ chấp nhận trở về nhà bà ân nhân nếu Tom thề với nó rằng tất cả mọi chuyện đó sẽ không cản trở nó trở thành tướng cướp sau này nếu nó muốn. 

- Thôi được, tớ sẽ ở lại nhà bà Douglas bao lâu cũng được. Và khi tớ đã trở thành một tướng cướp nổi tiếng, cậu sẽ thấy bà ta hãnh diện biết chừng nào vì đã rước tớ vào mái nhà của bà cho mà xem! 

HẾT
Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
Posted by Unknown

Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 11

Tom Sawyer
Chương 11: Cuộc píc-níc 

Sáng hôm đó, Tom biết được một tin làm nó rất vui: Becky vừa đi nghỉ hè về! Quên hết Joe Da đỏ! Quên hết (tạm thời) kho báu! Becky chiếm vị trí chủ yếu! 

Becky đã được mẹ hứa cho tổ chức cuộc píc-níc vào ngày hôm sau. Vì vậy thiệp mời được gởi ngay tối hôm đó và toàn thể bọn trẻ trong làng để hết thì giờ chuẩn bị cuộc vui chơi. Tom háo hức quá không sao ngủ được. Cho bao nhiêu Tom cũng không tiếc để đêm đó Huck đến kêu meo meo và chúng tìm được kho báu kịp thời để làm lóa mắt Becky trước đám bạn bè! Than ôi, chẳng có gì cả! 

Thế là sáng hôm sau, tất cả những kẻ được mời tụ họp trước nhà ông thẩm phán Thatcher, đợi lúc khởi hành. Không có người lớn nào đi theo vì sự có mặt của họ có thể làm bọn trẻ mất vui. Chỉ vài đứa con gái và con trai lớn bảo đảm cho buổi chiều suông sẻ. Người ta đã thuê một chiếc tàu hơi nước cũ cho dịp này. Chẳng mấy chốc đám trẻ vui nhộn lăng xăng trên đường phố chính của làng. Sid bị bệnh phải ở nhà và Mary luôn luôn ân cần ở lại để cho có bạn. 

Trước khi lên đường, bà Thatcher nói riêng với con gái mình : 

- Becky à, rất có thể tối nay con sẽ về muộn. 

- Có lẽ con nên ngủ lại nhà một người bạn của con ở gần bến tàu. 

- Thưa mẹ, vâng. Con sẽ đến nhà Suzy Har-per. 

- Con phải tỏ ra lễ phép và hãy cám ơn bà Harper đã cho con ở lại nhé. 

Nhưng chúng vừa lên đường thì Tom tìm Becky và đưa ra một gợi ý khác. 

- Tốt hơn chúng ta ngủ lại nhà bà Douglas nhé? Bà ta lúc nào cũng có kem và bà rất thích có người ở chơi. 

- Nhưng mẹ sẽ nói sao? 

- Trước tiên, mẹ bạn sẽ không hay biết gì cả. Lại nữa, chúng ta không làm gì quấy. Mẹ bạn chỉ muốn một điều là bạn được an toàn thôi. Thế nào? 

Nghĩ đến lòng hiếu khách hào phóng của bà Douglas, người lúc nào cũng cưng chìu trẻ con, Becky cảm thấy bao nhiêu ngần ngại đều tan biến và nó đồng ý. 

Bỗng Tom nhớ đến Huck: nếu đêm nay Huck tới kêu meo meo dưới cửa sổ thì sao? Thôi mặc, đêm trước nó không tới, ít có hy vọng đêm nay nó sẽ tới. Giữa vụ săn tìm kho báu chưa chắc đã có và một ly kem rõ ràng có thực, Tom không do dự và điều này ta cũng dễ hiểu. 

Chiếc tàu thả các hành khách trẻ trung hăng hái lên bờ cách làng khoảng năm cây số, ở một cái vịnh rất đẹp chung quanh có rừng bao bọc. 

Sau khi đi một vòng dạo chơi vui vẻ trong rừng, mọi người tụ tập nhau lại để ăn trưa và các đồ ăn đem theo biến sạch rất nhanh. Sau đó có một người gợi ý : 

- Bây giờ chúng ta đi thăm hang động, các bạn đồng ý không? 

Dĩ nhiên mọi người ai cũng muốn đi. Bọn trẻ đem theo đèn nến, trèo lên ngọn đồi cho tới cửa hang. Hang này có một cái cửa bằng gỗ sồi to tướng. Cửa đang mở và dẫn vào một hành lang dài lạnh như sông băng và rỉ nước ẩm ướt. 

Các nhà thám hiểm trẻ tuổi vui vẻ đi vào hang sâu. Những hành lang tỏa ra hai bên nhưng chúng cẩn thận không dám tách xa lối đi chính. Quả thực, hang MacDougal tạo thành một mê cung có các lối đi ngoằn ngoèo khúc khuỷu giao nhau nhiều chỗ rất dễ lạc đường. Người ta quả quyết rằng có thể lang thang trong đó mãi và không tìm thấy lối ra. Bọn trẻ biết rất rõ chúng có thể đi đến đâu. Vì vậy Tom không bỏ qua cơ hội thám hiểm càng xa càng tốt. 

Cuối cùng khi mọi người ra khỏi hang, người ta ngạc nhiên là trời sắp tối. Chuông trên tàu đã gọi hành khách từ nửa giờ rồi. Tất cả bước lên tàu, mệt nhọc nhưng hài lòng về một ngày tuyệt diệu. 

Trong lúc đó thì Huck ra sao? Huck đang ở vị trí canh gác. Bây giờ là mười giờ và gần như cả làng chìm trong bóng đêm và im lặng. Lúc mười một giờ đến lượt quán rượu tắt đèn và đêm tối mịt. Thời gian trôi qua chậm chạp, Huck đã cảm thấy hai mí mắt trụp xuống không cưỡng được... Thình lình, nó nghe một tiếng động nhẹ: có người đã mở cánh cửa ra con đường cụt! 

Trong phút chốc hai bóng người bước ngang qua gần bên nó; một trong hai người cắp một vật gì đó dưới cánh tay! Chúng đem cái rương đi! 

Nhanh lên, phải báo cho Tom mới được. Nhưng thôi, cứ theo dõi chúng thì hơn vì trong thời gian đi tìm Tom, bọn chúng sẽ biến mất và kho báu cũng mất theo! 

Hai tên đó đi theo con đường mòn dẫn đến đồi Cardiff. Chúng ngang qua nhà một ông lão người xứ Galles rồi cứ tiếp tục đi. Bây giờ chúng đang đi về phía ngôi nhà của bà Douglas. 

- Tốt quá. - Huck lẩm bẩm. - Nếu chúng chôn kho báu tại đây thì tìm lại sẽ không khó... 

Giọng khàn khàn của Joe Da đỏ rít lên trong cảnh im lặng : 

- Mẹ kiếp! Nhà mụ ta có người; cửa sổ đèn sáng! 

- Tao chẳng thấy gì cả. - Tên đồng bọn nói. 

Đó là giọng nói của tên lạ mặt trong ngôi nhà có ma. Biết đâu hai tên này tới đây để thực hiện việc trả thù mà chúng đã đề cập lần trước? 

Huck cảm thấy mồ hôi lạnh chảy trên vai... Phải mau mau chạy trốn! Lúc co giò bỏ chạy, Huck nhớ lại bà Douglas lúc nào cũng rất tốt với nó, trong khi nhiều dân làng đối xử với nó như một con chó. Nó lấy lại can đảm và nán lại để biết thêm. Lúc ấy còn kịp thì giờ để tìm sự giúp đỡ của ông già xứ Galles. 

- Mày nhìn đây. Nói gì thì nói, tao không thể từ bỏ chuyện trả thù. Lão thẩm phán chồng mụ ta đã kết tao tội du đãng và đã quất tao trước mặt cả làng, tao, một người Da đỏ! Lão đã chết nhưng mụ còn sống. Tao sẽ trói mụ vào giường, tao sẽ xẻ mũi mụ, tao sẽ cắt tai mụ... 

- Trời ôi, mày nói nghe độc ác quá! Đừng trông mong ở tao. Tao không phải là đồ mọi rợ! 

- Mày phải làm theo lời tao bảo, còn không tao sẽ tính chuyện cả với mày, hiểu không? Ta hãy đợi cho bọn kia đi đã... 

Huck đã bắt đầu yên lặng rút lui, mỗi bước lại cầu Chúa xin đừng vấp ngã. Khi thấy mình đã cách hai tên kia khá xa, nó quay lui và chạy như bay đến nhà ông lão người xứ Galles. Nó đấm cửa túi bụi. Một lát sau, Huck tưởng chừng như lâu vô tận, ông già và hai thanh niên vạm vỡ xuất hiện ở cửa sổ. 

- Này, có chuyện gì vậy? Ai đó? 

- Huckleberry Finn. Mở cửa cho tôi mau lên, tôi van các ông. Đây là chuyện sống chết! 

Cửa mở ra. Huck quỳ sụp xuống trước mặt ông lão. 

- Xin đừng bao giờ cho hay tôi đã nói điều này với ông, nó sẽ giết tôi chết mất! Nhưng bà Douglas lúc nào cũng tốt với tôi, nên tôi không thể để chúng làm như thế. Ông hãy hứa không tiết lộ tôi nhúng tay vào việc này, xin ông hứa đi! 

Khi ông lão người xứ Galles và hai con trai cuối cùng hiểu ra sự việc, họ lên đường, trang bị khí giới đầy đủ. Huck nấp sau một bụi cây, cách không xa nhà bà quả phụ. Khi nghe một tiếng súng nổ, nó co giò bỏ chạy. 

Sáng hôm sau, khi đến gọi cửa, nó được ông già tiếp đón thân mật như một người bạn, điều này chẳng mấy khi xảy đến trong cuộc đời ngắn ngủi của nó. 

- Cháu ạ, ta hy vọng cháu sẽ ngon miệng: bữa ăn sáng đang chờ chúng ta kia! Thế mà bọn này đã tưởng cháu sẽ trở về đây ngủ chứ... 

- Nghe phát súng đầu tiên, cháu đã thoát chạy. Cháu đã chạy vượt tới năm cây số đấy! Cháu đã không dám trở lại đây vì cháu sợ gặp “bọn chúng”, dầu sống hay chết. Bây giờ cháu đến để biết tin xem sao. 

- Than ôi, ta đã bắt hụt chúng vì đúng lúc ta sắp đánh úp chúng, ta bị một cơn hắt hơi làm chúng biết nguy. Phía ta bắn theo hướng có tiếng động nhưng chúng đã chạy thoát mất. Bác đã báo cho hiến binh và ngay từ sáng nay, họ sẽ lục soát các mé sông và trong các khu rừng. Phải chi ta nắm được tướng mạo của chúng! 

- Nhưng cháu biết: cháu đã theo dõi chúng từ trong làng. Một trong hai tên là lão câm điếc người Tây Ban Nha còn tên kia ăn mặc rất rách rưới. 

- Đi báo cho ông cảnh sát trưởng đi, các con! 

Hai người con trai của ông đứng dậy, Huck níu tay áo họ và năn nỉ : 

- Đừng nói tôi đã cho biết tướng mạo của bọn chúng, xin thương hại tôi với! 

Khi họ đã lên đường, ông già trấn an Huck : 

- Tụi nó sẽ không nói đâu, cháu đừng sợ. Mà thật tình tại sao cháu đã theo dõi bọn chúng? Cháu đã có nghi sao? 

Huck cố không để bị lộ. 

- Số là đêm qua cháu ngủ không được. Chết thật! Một cái thùng phuy không phải bao giờ cũng tiện nghi... Vậy là đang khi cháu đi về phía quán rượu thì thấy hai kẻ đi ra. Chúng có vẻ ám muội và do tò mò cháu đã đi theo chúng. Lúc đó, tên Tây Ban Nha nói là sẽ rạch nát mặt bà Douglas... 

- Cháu nói sao, tên câm điếc nói hả? 

Thằng Huck tội nghiệp cảm thấy nguy ngập: càng cố tìm cách ngăn ông lão biết tên Tây Ban Nha là ai, nó càng rối trí. Ông lão người xứ Galles kết luận. 

- Cháu ơi, ta không muốn làm hại cháu đâu, trái lại là khác. Đã rõ cháu muốn giữ kín một điều bí mật gì đó. Vậy cứ yên tâm không cần nói ra làm gì. Ta không hỏi thêm nữa đâu. 

Tin tưởng sự kín đáo, lòng tốt và sự cảm thông của ông già, Huck nói nhỏ cho ông ta hay lai lịch của tên giả làm câm điếc. Ông già ồ lên một tiếng rồi kết thúc câu chuyện về chuyến thảo phạt giữa đêm khuya : 

- Trước khi đi ngủ, bọn ta đã xem xét chỗ hai tên kia đứng và đã thấy một cái túi lớn đựng... 

Huck la ớ một tiếng làm ông lão ngừng lời. 

Ông nói tiếp : 

- ... đựng đồ nghề ăn trộm. Coi kìa, cháu muốn nó đựng cái gì khác nào? 

Huck cuống cuồng sợ bị lộ bèn nói ngay ý đầu tiên thoáng qua đầu : 

- Sách cho lớp học ngày chủ nhật! 

Chẳng cần phải nói, ông lão bật cười ngất, lắc lư nghiêng ngả từ đầu tới chân! Về phần Huck, nó biết được một điều: kho báu vẫn còn để lại ở chỗ số hai. Ngay khi hai tên bất lương bị tóm, nó và Tom sẽ chiếm lấy nó dễ như chơi. 

Sau bữa ăn sáng không lâu, có người gõ cửa. 

Huck co mình lại, nấp trong một góc. Ông già xứ Gallles mời nhiều người vào nhà, trong đó có bà Douglas đang cám ơn ông ta không ngớt lời. 

- Thưa bà, chớ nói chuyện đó nữa, nhất là trong khi những lời cám ơn của bà lẽ ra phải dành cho một người khác hơn là bố con chúng tôi. Nhưng người ấy không cho phép tôi tiết lộ danh tánh của anh ta. Thật tình mà nói, nếu không có anh ta, chúng tôi sẽ không thể nào can thiệp kịp thời. 

Mặc cho bao nhiêu câu hỏi dồn dập, ông lão vẫn không chịu nói thêm. Bà Douglas nói tiếp : 

- Tôi đang đọc sách trên giường thì thiếp ngủ, quên cả tắt đèn. Tại sao ông không đánh thức tôi dậy cho tôi hay? 

- Không cần phải làm bà kinh hoảng. Mấy tên cướp đó đã lặng lẽ cút đi và không có khả năng chúng quay lại nhất là vì tôi đã để ba tên da đen đứng gác cho đến sáng. Bà không còn bị nguy hiểm nữa. 

Sáng hôm đó, cả làng náo động. Họ kéo nhau đến nhà thờ thật sớm. Dân chúng chỉ quanh quẩn nói về các biến cố xảy ra đêm hôm qua mà ai cũng đều đã biết. Không tìm được một dấu vết nào của hai tên cướp. Khi buổi lễ chấm dứt bà Thatcher lại gặp bà Harper ở lối ra và vui vẻ hỏi. 

- Con bé Becky của tôi còn ngủ sao? 

- Becky? - Người đối thoại ngạc nhiên hỏi. 

- Ủa, nó không đến ngủ lại nhà bà sao? 

- Đâu có. 

Nghe nói thế, bà mẹ tội nghiệp tái mặt, ngồi sụp xuống trên một cái ghế gần đó, bủn rủn tay chân. Ngay lúc đó dì Polly tiến lại và hỏi thử xem có phải Tom đã ngủ tại nhà bà ta không? 

Khi biết rõ Tom và Becky không ngủ tại nhà ai cả, sự lo lắng bắt đầu lộ ra trên nét mặt mọi người. Vậy hai đứa đã ở lại đâu? Người ta bèn hỏi những đứa lớn lo việc trông nom lũ trẻ. 

Trong bóng tối, chúng đã không thể kiểm tra được đứa nào vắng mặt. Như vậy là không ai để tâm xem thử Tom và Becky có lên tàu hay không. 

Không đứa trẻ nào nhớ đã thấy chúng trên tàu cả. Hẳn rằng hai đứa đã còn lại trong hang động! 

Nghĩ đến điều đó, bà Thatcher và dì Polly ngất xỉu. Người ta đánh chuông cấp báo. Trong vòng năm phút, cả làng đã sẵn sàng bắt đầu đi tìm kiếm. Không ai nghĩ đến bọn cướp nữa. Mọi đàn ông kéo nhau tới hang đá trong lúc các bà vây quanh hai bà mẹ khốn khổ. Cuộc tìm kiếm kéo dài suốt cả đêm. Đến sáng, dân làng nhận được một lời nhắn vỏn vẹn chỉ có mấy chữ: “Xin gởi thêm đèn cầy và thức ăn” ông già người xứ Galles mờ sáng hôm sau mới trở về nhà, quần áo lấm đất sét và mỡ nến, mệt đến đứt hơi. Huck nằm trên giường mà ông lão đã chuẩn bị cho nó và run cầm cập: nó bị lên cơn sốt nặng đến mê sảng. Bà Douglas đến săn sóc thằng bé bị bệnh. Bà cam đoan sẽ hết sức cố gắng, bởi vì mặc dù Huck có nhiều tật xấu, chắc chắn trong người nó cũng có cái tốt vì nó là một tạo vật của Chúa sinh ra. 

- Ồ, tôi cam đoan với bà thằng bé này có điểm tốt! - Ông lão người xứ Galles nói ra vẻ quả quyết. 

Người ta vẫn tiếp tục tìm kiếm: mỗi ngóc ngách, mỗi khe hở đều được nhìn kỹ. Tại một nơi khá xa khu vực thường có khách tham quan đi đến, người ta bắt gặp hàng chữ sau đây, viết bằng bồ hóng của đèn cầy: “Becky và Tom”. Xa hơn một chút là giải buộc tóc của Becky. Khi nhận ra di vật này, bà Thatcher nắm chặt trong tay, bật khóc nức nở: liệu bà có thấy lại cô con gái mình nữa không? 

Ba ngày, ba đêm trôi qua; bao nhiêu tìm kiếm cũng đều chẳng có kết quả. Sự thất vọng sâu xa thế chỗ cho niềm hăng hái lúc đầu. Người nào cũng bắt đầu không tin có hy vọng tìm ra chúng. 

Huck vẫn còn sốt. Nó muốn biết tin về Tom (người ta giấu không cho biết Tom mất tích) và về quán rượu. Cuối cùng, không chịu nổi nữa, nó bèn đặt câu hỏi đang nóng bỏng trí tưởng tượng của nó : 

- Từ khi tôi bị bệnh đến giờ, người ta có phát hiện ra cái gì tại quán Tempérance không? 

- Có, cháu ạ! 

- Cái gì vậy? - Nó hỏi, nét mặt hớt hải, chờ đợi một điều tồi tệ hơn. 

- Rượu... Người ta đã đóng cửa quán rượu. 

- Có phải Tom đã phát hiện ra nó không? 

Nghe hỏi vậy, bà Douglas bật khóc nức nở và nói là không phải. 

Thế là kho báu đã mất, bởi vì nếu người ta đã lục lọi, tìm thấy rượu, chắc họ cũng đã bắt gặp cái rương... Tiếc thay! Tức giận quá đỗi rồi Huck ngủ thiếp đi. Bà Douglas nhìn ngắm nó rất lâu. 

- Tội nghiệp thằng bé nó ngủ. Nếu như nó biết rằng Tom đã mất tích và lúc này chỉ một mình bà dì đáng thương của nó còn hy vọng!... 

* * * * * 

Chúng ta hãy trở lui lại câu chuyện. Tom và Becky đã làm gì khi ở trong hang? Thoạt tiên chúng chơi cút bắt một cách hào hứng. Sau đó, mệt đứt hơi, chúng thám hiểm nhiều hành lang tạo thành mê cung, thỉnh thoảng tìm đọc những hàng chữ ghi nguệch ngoạc trên vách đá. Mải mê nói chuyện, hai đứa không để ý là các dòng chữ đó mỗi lúc một ít thấy, rồi không còn gì nữa. 

Chúng đến một nơi có một dòng nước mảnh chảy ra từ một dốc núi gần như trong suốt. Tom lẻn ra sau bức màng đá mỏng và lấy đèn soi, khiến Becky thích thú vỗ tay trước cảnh đẹp kỳ diệu. Sau bức màn đá, đường dốc như một cầu thang tự nhiên nằm giữa hai bờ đá gần nhau. Say mê khám phá, Tom gọi Becky đi theo nó. Sau khi dùng khói ghi một dấu hiệu để làm mốc, hai đứa bé đi sâu vào khe hở. Cuối cùng chúng đi đến một căn phòng rộng lớn có nhiều thạch nhũ treo lủng lẳng. Sau khi ngắm nghía chán mắt, chúng đi theo một hành lang dẫn chúng đến một dòng thác tuyệt đẹp rỉ ra từ các tảng đá và đáy vũng nước lấp lánh như nạm thủy tinh kỳ diệu. 

Nhưng ánh sáng các ngọn nến của hai đứa trẻ làm lũ dơi bám trên trần hang hoảng sợ. Chúng đáp ào xuống các cây nến và phát ra những tiếng kêu eo éo đinh tai. Tom kịp thời kéo Becky vào một hành lang gần nhất. Bị một cánh dơi quạt mạnh, ngọn nến của Becky phụt tắt. Nhưng lũ dơi vẫn tiếp tục đuổi theo hai đứa trẻ. Chúng chạy từ hành lang này qua hành lang khác và cuối cùng vượt xa lên trước. Hai đứa đến một cái hồ nước khác. ở đây hoàn toàn im lặng và mát mẻ làm chúng bỗng nhiên cảm thấy dễ chịu. 

Lần đầu tiên chúng nhận ra đang ở một nơi heo hút lẻ loi. 

- Hình như lâu quá chúng ta không nghe thấy tiếng người khác. - Becky nói nhỏ, vẻ lo ngại. - Chúng ta quay trở lại có hơn không, Tom? 

- Đồng ý, Becky ạ. Phiền một nỗi là phải tránh lũ dơi vì lần này không thể để chúng làm tắt hai cây nến của chúng ta. Thử tìm một con đường khác xem sao. 

- Tom muốn vậy cũng được. Miễn sao chúng ta khỏi đi lạc. - Cô bé run run nói thêm. 

Hai đứa trẻ đi bừa theo một hành lang, nhìn phải nhìn trái với hy vọng nhận ra con đường chúng đã đi hồi nãy, nhưng chúng thấy hoàn toàn xa lạ. 

Tom cố gắng che giấu sự lo ngại bắt đầu chớm nở trong lòng và hết sức tìm cách khích lệ Becky thêm can đảm : 

- Không sao cả. Chưa gặp được đúng đường nhưng không lâu nữa đâu. Thế nào chúng ta cũng sẽ gặp. 

Sau một giờ đi mò mẫm, Becky cuối cùng nài nỉ Tom trở lại theo đường có bầy dơi. Nước mắt lăn dài trên má, nó sợ quá bèn bám chặt tay Tom. 

- Hãy khoan, để Tom cất tiếng gọi. - Tom nói. 

Nhưng chỉ có tiếng vang đáp lại, ghê rợn và buồn thảm dội từ vách đá này sang vách đá khác.. 

- Tom ơi, đừng gọi nữa, nghe dễ sợ quá! 

- Phải gọi chứ Becky! Biết đâu có ai đó có thể nghe thấy tiếng chúng ta... 

Trong tiếng “có thể” ngầm chứa biết bao là tuyệt vọng! Hai đứa đứng im, căng tai lắng nghe từng tiếng động nhỏ. Than ôi, tai chúng chẳng nghe một tiếng nào. Vậy là chúng quyết định trở lui đường cũ sẵn sàng chấp nhận đương đầu với bầy dơi một lần nữa. Nhưng trong tâm trí chúng hiện ra ngay một sự thật chắc chắn khủng khiếp: chúng đã lạc đường. Trong lúc vội vã trốn thoát bầy dơi chúng đã quên không đánh dấu... Chúng mặc sức tìm kiếm mà vẫn không tìm lại được đường cũ!... 

- Tom ơi, chúng ta sẽ không bao giờ tìm được lối ra khỏi hang động ghê gớm này! Đời chúng ta tiêu mất rồi! Tại sao ta đã tách ra khỏi bọn họ làm gì? Chúng ta phải trả giá đắt cho sự bất cẩn đó... 

Tinh thần bị khủng hoảng thật sự, Becky ngồi bệt xuống đất. Tom phát sợ: cả hai đứa sắp mất trí cả chăng? Nó ôm chặt Becky và vỗ về cho đến khi con bé bình tĩnh lại. Thế rồi nó khẩn khoản van con bé đừng nản lòng: sự sống còn phụ thuộc vào sự bình tĩnh của chúng. Phải cố tìm mọi cách. Nhưng Becky cảm thấy không còn sức lực. Lòng giày vò vì hối hận, Tom hạ mình xin con bé tha lỗi. Lúc đó Becky giật mình: nó cũng có lỗi như Tom vì đã không làm gì, nói gì để ngăn cản Tom khi còn kịp. Con bé bèn đứng lên, nụ cười run rẩy trên môi. Nó tắt cây đèn của mình để tiết kiệm. 

Chúng lại tiếp tục đi, không mục tiêu rõ rệt, đi cầu may bởi vì hy vọng duy nhất của chúng chỉ còn có thế thôi. Đi, đi mãi biết đâu rồi sẽ tới. Nhưng dần dần chúng cảm thấy mệt, nhất là Becky, chẳng bao lâu đôi chân yếu ớt của nó rụng rời bởi vì nó đâu có như Tom đã từng quen chạy mải miết qua khắp miền quê. Tom ngồi xuống bên cạnh nó, thử tìm mọi cách an ủi và giải khuây bằng cách nói về những gì chúng sẽ làm khi trở về nhà, gặp lại bạn bè và ánh sáng ban ngày! Được ru bằng hy vọng, Becky thiếp ngủ trên hai cánh tay Tom và khuôn mặt nhăn nhó vì lo âu bây giờ tìm lại được vẻ dịu dàng, thanh thản nhờ ảnh hưởng của những giấc mơ êm ái. Nhưng giấc ngủ kéo dài không lâu và con bé thức dậy buông một tiếng than làm cho lòng Tom tan nát. 

- Phải chi Becky không bao giờ thức dậy nữa! Ác mộng quá kinh khủng! Xin lỗi Tom nhé, Becky thấy mình đã làm Tom khổ tâm. Becky sẽ không làm vậy nữa, Becky sẽ can đảm. 

- Becky ạ, Tom thề với Becky là Tom sẽ tìm được lối ra! 

Hai đứa bé đứng lên và cầm tay nhau, tiếp tục bước đi. Tom cố tìm cách nâng cao nghị lực và hăng hái trong lòng con bé trong khi bản thân nó chẳng có bao nhiêu. Thời gian khắc nghiệt trôi qua và cơn khát bắt đầu hành hạ chúng. Hai đứa bảo nhau đi hết sức êm nhẹ để nghe được tiếng nước chảy nếu may ra chúng chợt ngang qua gần một dòng suối. Cuối cùng chúng cũng bắt gặp một con suối. Sau khi đã khát, lần này lại đến đói cồn cào. Tom lấy trong túi ra một miếng bánh ngọt nhỏ. 

- Becky có nhớ cái này không? - Nó hỏi. 

- Bánh cưới của chúng ta - Becky trả lời, mỉm cười buồn bã... 

- Than ôi, chúng ta chỉ còn chừng này... 

- Becky đã nghĩ rằng khi về đến nhà, hai đứa mình mỗi người sẽ để một miếng bánh dưới gối, như những người lớn thường làm khi họ cưới nhau. Nhưng với chúng ta, rồi đây nó sẽ không là bánh cưới mà là bánh... 

Giọng nghẹn ngào, nó không nói hết câu. 

Tom chia bánh ra làm hai và đưa phần cho Becky. 

Con bé ăn ngấu nghiến. Còn Tom, nó bỏ phần mình lại vào túi. Becky đề nghị đi tiếp nhưng Tom ngăn lại. Nó nghiêm trang nói : 

- Becky ạ, chúng ta phải ở lại đây nơi có nước và chờ người đến cứu. Đây là cây nến cuối cùng của Tom. 

Becky lặng người sửng sốt, bèn tính toán nóng nảy : 

- Giờ này thế nào ở nhà cũng đã nhận ra chúng ta vắng mặt. Tối đến khi mẹ Becky không thấy Becky về, ắt bà đã báo động cho mọi người hay và chắc chắn họ đã lên đường... 

Bỗng cô bé ngừng nói, mặt tái xanh. 

- Tom à, mẹ Becky không ngóng chờ Becky trước ngày chủ nhật đâu. Mẹ tưởng Becky đang ở nhà Suzy! 

Hai đứa sững sờ, thất vọng trước đòn định mệnh mới giáng xuống, chỉ còn biết im lặng nhìn cây nến cuối cùng tàn lụi. Chẳng lâu sau, chúng điếng người kinh hãi nhìn ánh lửa bùng lên lần chót trước khi tắt hẳn. Lúc này bóng tối bao trùm toàn diện.. 

Sau một lúc lâu chúng mới thoát khỏi tình trạng thẫn thờ và cảm thấy cái đói hành hạ dữ dội hơn. Tom hào hiệp đưa Becky nguyên phần bánh của nó nhưng vẫn làm bộ giữ lại một miếng cho mình. 

Thình lình, những tiếng gọi yếu ớt làm chúng giật mình. Hy vọng điên cuồng, hai đứa bé hết sức la lớn để trả lời. Tom cầm bàn tay bạn, hai đứa mò mẫm bước về hướng phát ra tiếng kêu. 

- Chúng ta thoát chết rồi! Họ đã đến tìm chúng ta! 

Nhưng bước tiến của chúng vốn đã chậm lại bị chận bởi một cái khe đá lớn hơn các khe khác. 

Tom rạp mình nằm sấp, thò tay xem nó sâu đến cỡ nào. Nó sờ không đụng đáy. Hai đứa đành đứng tại chỗ, chờ tiếp cứu. Nhưng cả hai rụng rời sửng sốt khi nhận ra những tiếng kêu kia càng lúc càng xa thay vì tới gần... Đến lúc chúng đành chấp nhận các tiếng gọi đã tắt hẳn... 

Thêm một phen não nề vì số phận, Tom và Becky mò mẫm trở lại chỗ nguồn suối. Tuyệt vọng và đói lả người, chẳng mấy chốc chúng mơ màng thiếp ngủ. Một lát sau, ý chí Tom chợt bừng lên một lần cuối; nó quyết định thăm dò các hành lang rẽ ngang hai bên. Nó ôm hôn Becky đang nằm mê man rồi cất bước ra đi. Để khỏi bị lạc, nó vừa tiến lên vừa tháo cuộn dây thả diều. Thình lình nó thấy một ánh sáng mờ mờ cách xa chừng hai chục thước: một bàn tay đang cầm cây nến! Tom cất tiếng la lớn... và người cầm nến hiện ra trước mắt: đó là Joe Da đỏ. Điếng người vì sợ hãi, tay chân bủn rủn, thằng bé đứng chết cứng và im lặng trong khi đó tên đàn ông kia bỏ chạy. Cuối cùng, Tom bắt đầu cựa quậy chân tay rồi tức tốc trở về với Becky. 

Sau khi bình tĩnh lại, Tom bắt đầu thám hiểm một hành lang khác, vẫn vừa đi vừa thả sợi dây diều quý báu theo sau mình như lần trước. 

Nhưng không thành công vì hành lang này chẳng đi đến đâu cả. Với sự ngoan cường một cách máy móc và đói lả, Tom bò vào một hành lang thứ ba có trần rất thấp. Ngay khi cuộn dây đã thả ra hết và nó chuẩn bị quay trở lui lần nữa, nhân vật anh hùng của chúng ta chợt nhận ra một ánh sáng mờ ở xa xa... Buông sợi chỉ, nó bò về hướng đó cho đến khi thò được đầu và hai vai qua một lỗ hổng hẹp: nó lóa mắt nhìn thấy dòng sông Mississipi đang cuồn cuộn! Lòng náo nức như điên, nó tức tốc quay bước trở lại báo tin cho Becky biết. Nhưng con bé ủ rũ, thờ ơ, mất hết ý chí, không chịu tin: nó muốn chết yên ổn và mong người ta để cho nó yên... Tom lay con bé và truyền cho nó được một chút nghị lực. 

Thế rồi hai đứa chui qua lỗ hổng và ra dấu với những người chèo thuyền ngang qua. Thấy chúng đang trong tình cảnh đáng thương, các người này không nấn ná thì giờ và đưa chúng vào ngôi nhà gần đó nhất cho chúng ăn uống. Không lâu sau chúng lịm mắt ngủ say. Cái lỗ nhỏ mà chúng thoát qua nằm cách xa cửa vào hang đến tám cây số! 

Khi chúng tỉnh táo lại giữa đêm khuya khoắt, những người ấy dẫn chúng về làng. Cả làng đang chìm đắm trong cảnh buồn rầu: mặc cho bao nhiêu lời cầu nguyện ở nơi công cộng và ở nhà riêng, các đứa bé vẫn chẳng được tìm ra! Dần dà, những người tìm kiếm đã trở lại công việc thường ngày của họ; duy chỉ ông Thatcher dẫn đầu một toán nhỏ đang còn ở trong hang. Tình trạng của bà Thatcher thật trầm trọng: bà mê sảng, đứng ngồi không yên, ngày đêm tưởng chừng nghe những tiếng kêu của Becky mà lòng đau như xé. 

Về phần dì Polly đáng thương, mái tóc đã bạc trắng và đôi mắt đỏ hoe chứng tỏ bà đã tuyệt vọng mất ngủ nhiều đêm. 

Và thế là thình lình giữa đêm khuya, tiếng chuông tiếng la đánh thức dân làng đang ngủ say. 

Mọi người ai nấy đều túa ra, áo chưa kịp mặc và kéo nhau thành một đoàn dài mỗi lúc càng đông đi về phía dòng sông để đón hai đứa trẻ. 

Người ta la vui, hoan hô, chúc tụng, cầu nguyện tưng bừng cảm tạ Thượng đế và tán thán không ngớt lời. Khắp làng đèn đuốc sáng trưng, không ai nghĩ đến việc đi nằm ngủ lại. Ai nấy đều bình luận về biến cố đã qua. Trong gần cả tiếng đồng hồ, khách lũ lượt vào nhà của gia đình Thatcher, tất cả đều muốn ôm hôn hai đứa trẻ, bắt tay người mẹ sung sướng, ôm choàng dì Polly và đương nhiên là muốn nghe kể câu chuyện cứu hai đứa trẻ. 

Và Tom ngồi thoải mái trên một ghế trường kỷ, không đợi nài nỉ, sẵn sàng thuật lại chuyến phiêu lưu kỳ lạ. Câu chuyện càng ra vẻ ly kỳ khó tin hơn nhờ tài kể chuyện và trí tưởng tượng phong phú của nó. Nó nói nó đã đi xa hết chiều dài cuộn dây diều để thăm dò hai cái hành lang nhưng không kết quả; sau đó nó đi liều vào một hành lang thứ ba và sắp sửa quay trở lại thì có một ánh lửa ở đằng xa khiến nó phải chú ý. Nó thả đầu dây xuống, bò về hướng ấy và cuối cùng rất kinh ngạc đụng phải một lỗ nhỏ nằm... ngay trên bờ sông Mississipi! Mừng rơn, nó quay lại tìm Becky. Cô bé lúc đầu không tin, yêu cầu để cho nó chết yên thân, đừng một lần nữa ru ngủ nó bằng ảo tưởng. Nó đã năn nỉ và con bé cực chẳng đã đi theo nó: thấy ánh sáng ban ngày, con bé tưởng chừng như ngất đi vì nhẹ nhõm! Tom đã luồn qua lỗ hổng và sau đó đỡ cho con bé bò qua. Nhiều phút trôi qua, hai đứa ngồi yên lặng khóc lên vì sung sướng. Khi có một chiếc thuyền ngang qua, Tom đã kêu những người đàn ông trên thuyền và giải thích cho họ biết hoàn cảnh như thế nào. Những người này lúc đầu không tin lời nó vì cái lỗ hai đứa chui qua ở cách xa lối vào hang đến tám cây số về phía hạ lưu. Nhưng thấy bộ mặt đau khổ của chúng, họ đã dẫn chúng vào một ngôi nhà. Chúng được ăn và ngủ vài giờ trước khi được đưa trở về làng. 

Người ta vội vàng báo tin cho ông Thatcher và nhóm người của ông ta ngừng công việc tìm kiếm vì bây giờ không ích gì nữa. Người cha bất hạnh vui mừng ôm con gái vào lòng. 

Tom và Becky suy kiệt tinh thần vì ở trong hang lâu mấy ngày và bị nhịn đói quá mức. Becky liệt giường suốt tuần lễ, khi đi đứng được cô bé xanh xao gầy guộc như vừa qua một cơn bệnh dài ngày. Tom có sức chịu đựng giỏi hơn bạn nên chỉ hai ngày sau là nó lại sức. 

Tom biết tin Huck cũng đang bị bệnh. Ngay khi đi lại được, nó đến bên giường thăm hỏi Huck. Nó chỉ được phép nói chuyện với bạn với điều kiện dứt khoát không thuật lại chuyến phiêu lưu trong hang và nói chung là không nói gì có thể làm bất an hay khuấy động người bệnh. Bà Douglas tốt bụng rất quyến luyến thằng bé, để tâm canh chừng chặt chẽ để giữ đúng lời dặn. 

Tom được dì Polly cho biết về cuộc tấn công hụt ở đồi Cardiff và xác chết của người đàn ông rách rưới được vớt ở dưới sông. Người ta cho rằng hắn ta đã chết đuối khi tìm đường tẩu thoát. 

Một hôm Tom đến thăm Becky và được bố con bé tiếp. Bằng giọng giễu cợt thân ái, ông hỏi nó có muốn trở lại hang không. Thay vì bối rối bởi câu hỏi trêu trọc, Tom mạnh dạn trả lời : 

- Có chứ! Rất có thể cháu sẽ vào đó trong vài ngày tới.. 

- Thế thì cậu ạ, cậu sẽ gặp điều bất ngờ khó chịu: từ nay sẽ không ai vào đó được nữa đâu. Tôi đã cho đóng cửa hang và một mình tôi giữ chìa của ba ổ khóa. 

Mặt Tom trắng bệch như tờ giấy. Thấy nó bất ngờ tái xanh, bà Thatcher vội đỡ nhân vật anh hùng của chúng ta ngồi xuống và lấy khăn ướt chặm trên trán cho cậu ta. Khi ông Thatcher thấy Tom có vẻ tươi tỉnh lại, ông hỏi nguyên nhân vì sao nó xúc động : 

- Có chuyện gì vậy cháu? 

- Thưa ông Thatcher, có Joe Da đỏ ở trong hang cùng lúc với bọn cháu và giờ này, chắc hắn còn trong đó. 

Tin này lan nhanh khắp trong làng. Một đoàn thuyền tức thì trực chỉ đảo MacDougal. 

Chiếc tàu hơi nước chở đầy kẻ hiếu kỳ đi theo sau. Về phần Tom, nó ngồi trên chiếc thuyền của ông Thatcher. 

Khi ba ổ khóa được mở và cánh cửa nặng nề đẩy sang một bên, một cảnh tượng gớm ghiếc đập vào những cặp mắt kinh hoàng: Joe Da đỏ đang nằm dài chết cứng trên mặt đất, khuôn mặt hắn áp vào cánh cửa và thân hình vươn về phía lối ra, chứng tỏ hắn đã cố gắng đến cùng để thoát khỏi định mệnh. 

Trước xác chết của hắn, Tom không ngăn được lòng thương hại đối với kẻ khốn khổ vì kinh nghiệm cho nó biết con người này đã trải qua những giây phút khủng khiếp ra sao. Nó nhớ rất rõ những thống khổ đã hành hạ nó khi bị kẹt trong lòng hang đá. Nhưng đồng thời nó thấy lòng tràn ngập cảm giác nhẹ nhõm và yên tâm. Rốt cuộc, nỗi đe dọa khủng khiếp rình rập kể từ ngày nó làm chứng trước tòa tan biến và chỉ còn lại một kỷ niệm khó chịu! Nó được trút khỏi một gánh nặng ghê gớm. 

Con dao của Joe Da đỏ nằm bên cạnh hắn, lưỡi đã gãy. Hắn đã cố đục khoét cánh cửa nhưng hoài công... 

Thông thường, lúc nào người ta cũng thấy những mẩu nến vụn do du khách bỏ lại trong các hốc đá. Bây giờ không còn một mẩu nào: Joe Da đỏ đã nuốt hết. Nó cũng đã ăn một vài con dơi, chỉ chừa lại xương. Để có nước uống, kẻ bị giam trong hang đã đào một hố nhỏ bên dưới một thạch nhũ để hứng những giọt nước quý giá từ đó rỉ ra đúng ba phút một giọt. Mỗi ngày chỉ đầy một muỗng cà phê... 

Người ta quyết định chôn kẻ xấu số gần cửa hang. Hôm đó, nhiều người vô công rồi nghề đi bằng tàu thủy hoặc xe bò lũ lượt kéo cả vợ con, đem theo những giỏ đồ ăn đến chứng kiến: họ cũng cảm thấy khoái trá như thấy y bị treo cổ.

Tiểu thuyết - Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer Chương 10

Tom Sawyer
Chương 10:   Săn tìm kho báu 

Với bản chất thiếu niên như bao đứa trẻ bình thường khác, một hôm Tom cảm thấy khát khao ham muốn đi tìm một kho tàng được chôn giấu... Vậy là nó đi tìm gặp Joe Harper nhưng thằng này chẳng thấy bóng dáng đâu cả. Nó bèn đến nhà Ben Roger nhưng Ben đã đi câu. Khi ra khỏi nhà Roger, Tom gặp ngay Huck. Kéo thằng này ra chỗ vắng, sợ có người nghe lỏm, nó hết sức kín đáo cho Huck biết dự tính của nó. Lúc đầu Huck hăng hái nhận lời đi theo nó nhưng sau khi suy nghĩ lại tỏ ra nghi ngại. 

- Nhưng, Tom này, thật sự người ta thường thường tìm thấy kho tàng ở đâu nhỉ? 

- Kìa, gần như ở đâu cũng có. 

- Làm sao tìm ra? Chỉ cần đào là thấy hả? 

- Đâu phải vậy, rõ ngốc! Đương nhiên phải chọn địa điểm chứ. Tại một nơi hẻo lánh như một đảo hoang chẳng hạn hoặc dưới một gốc cây, nơi bóng nó rọi xuống, lúc nửa đêm, hoặc nữa, trong một ngôi nhà có ma dưới sàn ván kêu cọt kẹt... Kho tàng được giấu tại những chỗ ấy. 

- Và ai đã giấu chúng? 

- Dĩ nhiên là bọn trộm cướp chứ ai! Cậu tưởng người lương thiện mà làm chuyện đó sao chứ! 

- Tớ làm sao biết được? Nói thật, nếu tớ có một kho tàng, tớ không bao giờ đem chôn giấu, làm vậy là ngốc lắm. Tớ sẽ đem nó ra xài, xài cho đã thôi! 

- Đương nhiên tớ cũng vậy nhưng bọn cướp hành động cách khác. Bọn chúng đem chôn kho tàng của chúng và để yên ở đó, chuyện đó ai cũng đều biết. 

- Thế chúng không bao giờ đi tìm lại sao? 

- Không. Chắc chắn là chúng có ý định nhưng không bao giờ làm được như ý đâu. Lắm khi chúng đánh mất cái sơ đồ có đánh dấu nơi chôn của hoặc chúng chết không kịp đến để kiếm và đủ thứ lý do khác. Lúc nào kho báu cũng nằm lại đó rất lâu. Và một ngày kia, những thằng nhóc như tớ và cậu vớ được một tấm giấy da cũ.úa vàng đầy những ghi chú bí ẩn và nhờ những chỉ dẫn này để tìm ra kho tàng. 

- Tuyệt quá! Cậu đã tìm được một tờ giấy như vậy à? 

- Không, chưa... 

- Nhưng nếu như vậy, chúng ta làm sao có được những chỉ dẫn ấy? 

- Cậu đừng lo! Bọn ta sẽ tìm ra. Nghe này, bọn ta đã bắt đầu đào trên đảo Jackson, bọn ta có thể sẽ tiếp tục tìm kiếm. Sau đó, nếu không kết quả, bọn ta sẽ có thể thử ở ngôi nhà cổ có ma dưới chân đồi và kế đó là các cây khô... 

- Sao! ở mỗi gốc cây khô đều có một kho báu à? 

- Không phải đâu, sao cậu dốt thế! 

- Vậy làm sao chúng ta biết gốc cây nào mà đào? 

- Thì sẽ đào thử tất. 

- Cái điệu đó, có mà đi đào suốt mùa hè này. - Huck bình phẩm, đã khá chán nản. 

- Chậc, dầu sao bọn ta không có cách nào làm khác hơn. Cậu cứ tưởng tượng chúng ta tìm được một cái nồi cũ trong đó có một đống đô la, ít ra là một trăm, hoặc một cái tráp đựng đầy đá quý, cậu nghĩ như vậy không đáng công sao? 

Nghĩ đến cảnh đó, cặp mắt của Huck long lanh thèm muốn... 

- Đương nhiên thế thì tuyệt rồi! Tớ sẽ lấy đô la còn cậu sẽ giữ lấy đá quý. 

- Cái đó tớ không từ chối. Vì cậu biết kim cương và bao nhiêu thứ đó đáng giá nhiều đô la lắm chứ! 

- Cậu không từ chối, nói thật chứ? 

- Chắc rồi. Cậu biết chỉ có vua chúa mới có thể mua nổi đá quý, đắt lắm đó! 

- Cậu có biết vua chúa nào không? 

- Dĩ nhiên là không, chúng ta ở đây chỉ có tổng thống. Nhưng ở châu Âu, vua chúa có khối, thiếu gì. 

- Thôi mặc kệ vua chúa! Này, nói trở lại chuyện đứng đắn, bọn ta sẽ bắt đầu ở đâu? 

- Chúng ta sẽ xem xét gốc cây khô trên kia, gần ngã tư Still House, đồng ý không? 

- Đồng ý. 

Trang bị một cái xẻng và một cây cuốc, bọn chúng lên đường. Vừa đi chúng vừa chuyện gẫu.. 

- Này Dick, tìm được kho báu rồi cậu dùng phần cậu để làm gì nào? 

- Ngày nào tớ cũng sẽ mua một khúc thịt và nước chanh. Mỗi lần gánh xiếc đến là tớ sẽ đi xem. Rồi thì... 

- Cậu không để dành để cho ngày sau ư? -Tom ngắt lời. 

- Mắc gì để dành, để bố tớ vơ hết cả hả? Còn cậu sẽ mua gì, Tom? 

- Một cái trống mới, một thanh gươm thật, một cái cà vạt đỏ và một con chó. Tớ còn lấy vợ nữa. 

- Kìa, cậu trật lất rồi, ông bạn ơi! Cái dại dột nhất của đàn ông là ở chỗ đó. Cậu nhìn bố mẹ tớ mà xem: lúc nào hai ông bà cũng cãi nhau! 

Đời đẹp lắm đấy! 

- Người mà tớ lấy sẽ không như thế đâu, tớ thề với cậu!... 

- Người ta cứ tin vậy, thế nhưng vừa mới đeo nhẫn vào ngón tay, cô nàng õng ẹo sẽ sinh sự với bạn ngay... Hãy nghĩ lại cho kỹ trước khi đâm đầu vào đó, cậu ạ. Chỗ bạn bè tớ khuyên cậu như vậy. Vị hôn thê của cậu tên gì nhỉ? Tớ có biết con nhỏ đó không? 

- Trước hết, đó không phải là một con nhỏ tầm thường mà là một cô nương. Và sau nữa, đó là việc riêng của tớ. 

- Tùy cậu, tớ đã nói trước cho cậu rồi đấy. Nhưng có điều nếu cậu lấy vợ, tớ còn một mình sao? 

- Đâu có, cậu sẽ đến ở chung với bọn tớ. Vậy là thân mật. Thôi, bây giờ chúng mình đến nơi rồi. Đừng nói phiếm nữa: nào ta bắt tay làm việc! 

Chúng hăng hái liên tục đào suốt nửa giờ đầu tiên, rồi sau khi ngừng tay một lát, chúng lại đào tiếp. 

- Các kho báu... lúc nào cũng chôn... sâu đến thế này sao? - Huck vừa thở hổn hển vừa hỏi. 

- Không phải lúc nào cũng thế. - Tom bảo. 

- Thường thường theo tớ nghĩ là không. Thật ra, tớ tự hỏi không biết bọn ta đào có đúng chỗ không đây... 

Hai đứa quyết định thử thời vận ở một nơi khác. Sau một lúc khá lâu, Huck dừng tay để lau mồ hôi chảy ròng ròng trên trán. 

- Đào xong chỗ này, bọn mình có thể đi đâu?. 

- Chúng ta có thể thử đào ở cây cổ thụ ở Đồi Cardiff, đằng sau nhà bà góa ấy. - Tom đề nghị. 

- Kìa, cậu tưởng bà góa ấy không giữ lại kho báu sao? Dầu sao nó cũng nằm trong đất của bà. 

- Không đâu, kho báu thuộc về người nào tìm ra nó, ai cũng biết điều đó. 

- Tớ cũng khoái vậy lắm! Bao nhiêu công lao mà không được gì! Này Tom, tớ có cảm tưởng lần này bọn ta vẫn còn nhầm chỗ đấy... 

- Cậu nghĩ thế à? Hay là bị ảnh hưởng của mụ phù thủy không chừng. Đôi khi chúng cản phá và đành phải bó tay. 

- Giữa ban ngày làm sao có chuyện đó? 

- Quả thật, cậu nói phải đấy. À thôi, tớ biết trục trặc gì rồi: phải đợi đến nửa đêm mới biết chính xác phải đào chỗ nào. 

- Rõ khéo, bọn mình làm đến thế mà không được gì cả sao? Lại còn phải gác lại tới nửa đêm! 

- Đâu có gần gũi gì! Mà cậu có ra khỏi nhà được không chứ? 

- Đừng lo! Cậu hãy đến dưới cửa sổ tớ và kêu meo meo như thường lệ. 

- Được rồi. Bọn mình hãy giấu dụng cụ trong bụi cây này. 

Vào giờ đã định, hai thằng bé trở lại. Cảnh vật vắng vẻ rùng rợn. Xa xa người ta nghe tiếng chó sủa, tiếng cú rúc. Tiếng động ban đêm giống tiếng ma quỷ thì thầm. Hai đứa bé vừa đợi vừa run. Khi chúng cho rằng đã đến nửa đêm, chúng bắt đầu đào ở chỗ bóng cây rọi xuống. Niềm hy vọng thúc đẩy những nhát cuốc bổ xuống không ngừng. Mỗi lần cuốc đụng một vật cản, chúng lại tăng thêm can đảm gấp đôi để rồi lại thất vọng: lúc thì một hòn đá, lúc thì một cái rễ cây... 

Cuối cùng Tom nói, giọng yếu xìu : 

- Tiếp tục cũng vô ích, Huck ạ. Hoặc không đúng gốc cây hoặc không đúng giờ tốt rồi. 

- Đúng đó. Có lẽ chúng ta đến quá sớm hoặc quá trễ, không thể biết chính xác nó ở đâu. Nói thật tình, tớ phải thú nhận với cậu là tớ muốn bỏ đi thôi. ở đây như thế này, giữa các mụ phù thủy và ma quỷ, nãy giờ tớ đã nổi da gà rồi! 

- Ấy là chưa kể bọn cướp thường chôn một thây ma bên cạnh kho báu để canh giữ. Cậu biết không, ta mà trêu vào nó, nó không chửi rủa ta sao? 

- Ôi Tom, đừng nói nữa, tớ van cậu. Cậu biết tớ không phải là đứa chết nhát, nhưng mà ở đây... Ta đi thôi! 

- Ừ, như vậy là hơn. Ta tới ngôi nhà có ma đi! 

- Đồng ý nhưng để ngày mai đã. Ta thoát khỏi thây ma không phải để rời vào bọn quỷ. 

Quỷ còn ngán hơn, chúng nghiến răng và đủ thứ chuyện... 

- Ôi dà, thật tình tớ thấy không dễ chịu trong ngôi nhà đó, giữa đêm hôm khuya khoắt như thế này: biết đâu ta lại chẳng gặp hồn ma của người đã bị ám sát ở đó với bạn bè của y! Bọn họ muốn trả thù thì sao? 

- Nói cho cùng, không phải lúc nào chúng cũng hiện ra lúc ban ngày. 

- Được, đồng ý sẽ đi đến ngôi nhà có ma. Còn bây giờ ta hãy về nhà cái đã. 

Hôm sau vào lúc giữa trưa, Tom và Huck lên đường tới nơi đã định. Trên đường đi, chúng chuyện trò vui vẻ. Bỗng Huck hỏi : 

- Tom này, hôm nay là thứ mấy nhỉ? 

- Chết rồi, tớ đâu nghĩ tới. Hôm nay là thứ sáu. Ai cũng biết rằng thứ sáu không phải là ngày may mắn. Huck à, nếu bọn ta dời sang ngày mai thì cậu có phiền lắm không? 

Huck vốn không mặn mà với ý nghĩ đi đến ngôi nhà có ma, nói vui vẻ chấp nhận hoãn lại. 

- Ừ, tớ nghĩ như vậy phải hơn, nhất là đêm qua tớ nằm mơ: tớ đã mơ thấy chuột cống. 

- Ạ là là! Thấy chuột cống là dấu hiệu tương lai gặp rắc rối lắm đó! Chúng có cắn lộn nhau không? 

- Không! 

- May quá! Vậy là không đến nỗi xấu như tớ đã sợ! Dầu sao, chúng ta phải thận trọng và hãy bỏ qua hôm nay đi. Hay bọn mình chơi trò Robin Hood nhé? 

- Là ai vậy? 

- Sao, cậu không biết à? Cậu chưa nghe nói về anh ta hả? Đó là người anh hùng vĩ đại trong lịch sử nước Anh: đó là một tay cường đạo. 

- Tuyệt quá! Đó là cái nghề tao thích đó! Mà anh ta cướp cái gì? 

- Tiền của bọn giàu để cho người nghèo: luôn luôn anh ta chia của cướp được cho họ. 

- Người đâu mà tốt thế! 

- Về mặt ấy đã đành! Ngày nay không còn những người như anh ta nữa, đáng tiếc thật! Ngoài cái đó ra, anh ta còn có sức mạnh: anh ta có thể dùng một tay hạ bất cứ đối thủ nào! 

- Thật không! 

- Nhất định là thế! Và anh ta bắn cung tài giỏi phi thường: với cây cung bằng gỗ thủy tùng, anh ta đã bắn xuyên thủng một đồng tiền ở xa hơn hai cây số! 

- Phi thường thật! Nhưng gỗ thủy tùng là gì vậy? 

- Chẳng biết. Có lẽ là thứ gỗ người ta dùng để làm cung vào thời đó. Cậu biết, hình như anh ta đã khóc nếu mũi tên của anh ta chỉ lướt sát qua đồng tiền đấy! 

Huck tặc lưỡi để chứng tỏ nó đánh giá cao đúng mức giai thoại đó. 

- Thế thì nhất định bọn ta chơi trò Robin Hood chứ? 

- Sao còn hỏi làm gì! 

Vậy là hai đứa chơi trò Robin Hood suốt cả buổi chiều, thỉnh thoảng không quên liếc nhìn lo ngại về phía ngôi nhà có ma. Khi mặt trời bắt đầu lặn, chúng trở về nhà và hẹn nhau ngày mai. 

Buổi chiều thứ bảy, hai đứa bé trở lại gốc cây khô. Sau khi đào thêm chút nữa để lấy lệ hơn là thật tình tin tưởng, chúng đi về phía ngôi nhà có ma. Hàng rào bao quanh nhà trước kia đã biến mất từ lâu, cỏ dại mọc um tùm; ống khói đã sụp đổ, cửa kính không còn một ô, một góc mái đã sụp. Ngôi nhà toát ra một cảm giác cô tịch và thê lương đến nỗi Tom và Huck phải lùi lại trước khi liều mạng bước vào. Rồi sau khi lấy lại can đảm, chúng rẽ một lối đi giữa đám cây cối rậm rạp tới tận thềm cửa và thận trọng nhìn vào bên trong. Chúng thấy một căn phòng không còn mặt sàn, cũng bị cỏ dại xâm lấn: lò sưởi cũ đã hoang phế và cầu thang lên gác đã hư hỏng. Khắp nơi giăng đầy mạng nhện. Hai kẻ đồng mưu bước vào nhà, tim đập thình thịch, vểnh tai nghe ngóng, lúc nào cũng giữ thế thủ. 

Dần dần chúng bớt sợ và bắt đầu xem xét. Sau khi xem kỹ tầng trệt, chúng có ý nghĩ thử leo lên gác. Vì vậy chúng để dụng cụ trong một góc và leo liều lên cầu thang. ở trên đó, chúng gặp một cảnh cũng hoang tàn như dưới nhà. Lúc chúng định trở xuống, Tom nắm cánh tay Huck, ngăn ngay nó lại. 

- Khoan đã! 

- Gì thế? 

- Lắng nghe xem, có người đi tới... 

Quả đúng, những tiếng người nói đang tiến lại gần. Kinh hồn, hai đứa trẻ nằm sát xuống sàn. 

Dán mắt vào một cái lỗ hổng ở sàn, chúng theo dõi những kẻ mới đến. Hai người đàn ông bước vào nhà. Chúng chỉ nhận ra một trong hai kẻ đó là lão Tây Ban Nha câm điếc mới gần đây có đôi lần ra thành phố. Y đội một chiếc mũ to, mái tóc dài thõng xuống, mắt khuất sau cặp kính màu xanh lục. Người kia đang độ tuổi cường tráng ăn mặc rách rưới và gớm ghiếc. Hai tên bắt đầu nói : 

- Tao đã nghĩ kỹ. - Tên lạ mặt nói. - Tao không đi đâu. Quá nguy hiểm. 

- Nguy hiểm, nguy hiểm! - Tên giả bộ câm điếc la lớn làm bọn trẻ rất đỗi ngạc nhiên. - Mày là con gà ướt thì đúng hơn! 

Chúa ôi, giọng nói đó là giọng của Joe Da đỏ! Hai đứa nguy đến nơi rồi. Than ôi, đâm lao thì phải theo lao biết sao bây giờ! 

- Ban ngày mà đến chỗ này đã là liều lắm rồi, thấy chúng ta bất cứ ai cũng nghi ngờ được. 

- Tao biết lắm chứ nhưng tao muốn rời khỏi cái nhà bẩn thỉu này càng nhanh càng tốt. Lẽ ra phải xong từ hôm qua. Nhưng vì hai thằng quỷ con chơi trên đồi... 

Nghe vậy, hai thằng quỷ con được nhắc tới rùng mình nghĩ lại: chúng đã may mắn thoát nạn. 

Nếu chúng đến đây hôm thứ sáu như đã định lúc đầu, không biết chúng đã ra sao? 

Joe Da đỏ nói tiếp : 

- Phần mày, mày sẽ đi ngược dòng, song đến chỗ mày đã biết, mày phải đợi đó để chờ tin tao. Phần tao, tao sẽ tạt về làng xem tình hình ra sao. Nếu êm, bọn ta sẽ tiến hành mau lẹ và sau đó chúng ta sẽ sống cuộc đời đẹp đẽ ở Texas! Trong khi chờ đợi, tao ngủ một chút cho khỏe. Mày canh gác nhé? 

Tên Da đỏ nằm dài tênh hênh trên đám cỏ dại mọc dày trên mặt đất và nhắm mắt ngủ ngay. 

Không bao lâu, tiếng ngáy của y làm rung cả các bức tường. Và tên kia cũng nhanh chóng bắt chước theo. Hai đứa bé thở phào một tiếng nhẹ nhõm. 

- Ta chạy lẹ đi. - Tom nói nhỏ. 

- Tớ không thể. - Huck nghẹn ngào nói - Nếu chúng thức dậy, ta sẽ nguy... 

- Mặc kệ, tớ cứ đi. 

Nói xong làm ngay, Tom thử nhỏm dậy. 

Nhưng vừa toan nhúc nhích một cái, thì sàn gác kêu rắc một tiếng nên nó nằm xuống ngay, sợ muốn chết. Vậy là phải chờ cho hai tên bất lương thức dậy, bỏ đi. 

Cuối cùng sau một thời gian, hai đứa bé tưởng chừng như kéo dài vô tận, Joe Da đỏ ngưng ngáy. Nó nhướng một mí mắt và thấy tên đồng mưu của nó đang ngủ say. Y đưa chân đá cho nó một cú vào sườn, kèm theo những tiếng chửi rủa thậm tệ. Rồi y bảo : 

- Mày thức canh như vậy đó hả? Nếu đã không xảy ra chuyện gì, chắc cũng nhờ mày đó hẳn! 

- Vậy tôi cũng đã thiếp đi à? - Tên kia hỏi, vẫn còn ngái ngủ. 

- Còn gì nữa! Mày ngáy to đến nỗi trong làng cũng nghe thấy. Thôi, đến giờ đi rồi. Cái kho báu này ta phải làm sao đây? Sáu trăm năm mươi đô la bằng bạc, nặng lắm đó! 

- Chôn ở đây đi, khi xong mọi việc ta sẽ trở lại tìm. 

- Ý kiến hay đó. 

Không phải chỉ có hai người đàn ông tán thành ý kiến đó. ở chỗ ẩn nấp trên kia, Tom và Huck quên cả sợ hãi và âm thầm vui sướng về món của trời cho đã dọn sẵn trên mâm! Sáu trăm năm mươi đô la: đầu óc chúng quay cuồng! 

Thực tế xa hơn những hy vọng điên rồ nhất của chúng! 

Joe tiến lại lò sưởi với một cái túi kêu leng keng thật êm tai rồi lật một tấm đá lót nền lò sưởi. Y lấy dao găm đào xuống chỗ đó. Không lâu sau, cây dao găm bị khựng lại bởi một vật cản. 

- Cái gì thế này! Một tấm ván cũ mục nát; ô kìa, không phải, một cái thùng chứa. Được rồi, tao đã xoi được một lỗ. Không biết nó có thể đựng thứ gì trong đó nhỉ? 

Nó thọc tay vào thùng. 

- Đồng tiền, mày ơi, những đồng tiền vàng! Chúng ta kéo thùng lên lẹ đi! 

Khỏi cần nói Tom và Huck chẳng khác nào nằm trên than đỏ... 

Hai tên đàn ông đào cái thùng lên và bật nắp. Chúng sửng sốt cất chân không nổi. 

- Một kho báu! Chắc chắn có đến hàng ngàn đô la! - Joe Da đỏ la lên, giọng tin tưởng. 

- Từ trước đến giờ nghe người ta nói Murzel và đồng bọn đã lảng vảng ở đây. Chắc cái này là của chúng chăng? Xét ra, bây giờ mày không còn cần làm vụ kia nữa Joe ạ, chúng ta giàu rồi! 

- Cái này không liên quan gì cả. Vụ kia không phải là trộm cướp, đó là một cuộc phục thù. Bây giờ mày hãy quay về thăm vợ con mày đi rồi ở đó chờ dấu hiệu của tao. 

- Trong khi chờ đợi, cái này ta tính sao? Hay ta cứ chôn nó lại xuống đất, không ai thấy chẳng ai biết? 

- Ừ, - Joe Da đỏ đồng ý. - Hay thôi đi thì hơn. Mày có thấy mấy cái dụng cụ trong góc kia không? Chúng mới sử dụng đây thôi, có lẽ chúng sẽ trở lại tìm. Nếu chúng thấy đất mới xới, chắc chúng sẽ có những ý nghĩ không hay! Tốt hơn chúng ta để nó vào chỗ cất giấu. 

- Đồng ý, ở chỗ giấu số một à? 

- Không, ở chỗ giấu số hai, dưới cây thập giá. Chúng ta đi thôi, bây giờ trời đã tối. 

Ta có thể tưởng ra được những tâm trạng hai đứa trẻ đã lần lượt trải qua: niềm hy vọng điên cuồng trước đây làm chúng hăng hái đã nhường chỗ cho một sự thất vọng não nề. Và bao nhiêu khổ tâm, lo lắng của chúng đâu đã hết. 

Joe Da đỏ tỏ vẻ chưa muốn đi. Y đang nghĩ ngợi. 

- Nói gì thì nói tao cũng cứ thắc mắc những cây cuốc này không biết của ai. Cái này tao thấy không êm... Biết đâu chúng nó ở trên kia? 

Tom và Huck sợ điếng người. Bây giờ chúng chỉ còn cách duy nhất là cầu xin một phép lạ của Thượng đế; nếu không, giờ phút cuối cùng của chúng đã đến không còn có thể nghi ngờ gì nữa. 

Joe Da đỏ rút dao ra và tiến đến cầu thang. 

Dưới chân y, các bậc thang kêu răng rắc. Lúc Tom và Huck sắp sửa ngất đi vì sợ hãi thì cầu thang sụp đổ và tên Mỹ lai da đỏ rớt té xuống đống bụi bặm và xác gỗ mục. 

- Thôi bỏ đi - Tên kia nói - Nếu trên đó có người, cứ để chúng yên. Dầu sao ta cũng đem của theo. Còn nếu chúng muốn theo bọn ta cũng không được vì trời tối. Theo tao nghĩ, những kẻ đem dụng cụ lại đây nếu có thấy chúng ta ắt đã bỏ chạy vì tưởng chúng ta là ma. Mày biết dân ở xó này mê tín lắm. 

Vậy là hai tên đàn ông ra khỏi nhà, mang theo đống của quý giá của chúng. Tom và Huck nín chờ khoảng mười phút nữa rồi mới ngồi dậy. 

Bây giờ đã qua cơn nguy, chúng nổi tức ói gan ói mật: giá không bỏ lại cuốc xẻng ở dưới nhà thì chúng đã gặp thời rồi! Chúng thề quyết canh chừng và theo dõi tên Tây Ban Nha giả hiệu khi hắn về làng. Phải tìm ra cho được chỗ cất giấu số hai! 

Thình lình, Tom xanh mặt : 

- Này, sự trả thù mà hắn nói đến đó cậu có nghĩ... là nhắm vào chúng ta không? 

- Ôi Tom à, tớ van cậu đừng nói thế! Tớ cảm thấy nhắm mắt không yên. Nhưng tớ nghĩ, hắn đâu có biết tớ nhúng tay vào vụ đó! 

Tom không tán thưởng cho lắm thái độ đào ngũ bỏ nó lại một mình với bao nỗi lo sợ trong lòng. 

Sáng hôm sau, Tom thức dậy rã rời sau một đêm trằn trọc không yên. Bốn lần trong giấc ngủ, nó thấy mình đặt tay lên kho báu phi thường và cả bốn lần, những đồng tiền vàng đã tan biến giữa những ngón tay tham lam của nó... Mỗi lần như vậy nó thất vọng đến nỗi dật dờ nửa tỉnh nửa mê. 

Nhưng thật ra cuộc phiêu lưu ngày hôm qua cũng chỉ là một giấc mơ hay điều có thực? Đối với nó, một kẻ bao giờ cũng chỉ có vài xu trong túi, đống tiền vàng khó tin kia có vẻ chỉ là tưởng tượng thì đúng hơn. Một trăm đô la đã quá lớn, mà đây đến cả hàng ngàn... Ừ phải, chuyện này rõ ràng đáng ngờ. Có lẽ tất cả chỉ là nằm mơ. 

Để chắc chắn hơn, nó quyết định gặp Huck để hỏi cho sáng tỏ vấn đề và dứt khoát yên tâm. 

Nhưng nó sẽ không đề cập trước. Nếu Huck cũng không nói tới, vấn đề coi như đã giải quyết. 

Hoàn toàn là nó đã tưởng tượng! 

- Ồ, Huck! 

Huck mặt mày ủ rũ, chào Tom một cách ơ hờ. 

- Tớ nghĩ giá lúc ấy, bọn ta để dụng cụ ở dưới gốc cây khô thì bọn ta đã giàu nứt đố rồi! 

- Vậy ra không phải là nằm mơ! 

- Làm sao mơ được. Bọn ta đã gặp một cơ hội ngàn năm một thuở và đã bỏ lỡ mất rồi. 

- Điên lên được! Hy vọng duy nhất bây giờ là tìm cho ra con số hai chết tiệt kia! 

- Cậu nghĩ đó có thể là số gì? 

- Không biết. Số nhà chăng? 

- Nếu vậy thì nó không ở trong làng vì ở đây nhà đâu có số? 

- Vậy thì số phòng trong một quán trọ, cậu nghĩ sao? 

- Nếu đúng vậy thì tìm sẽ không rắc rối gì, vì chỉ có hai quán trọ thôi. Này Huck, cậu ở đây, còn tớ sẽ đi điều tra một chút. 

Tom phóng nhanh như tên bắn. Nửa giờ sau nó trở lại, mặt mày hớn hở. 

- Tớ tin bọn mình lần theo đúng đường rồi, Huck à! 

Lúc nãy Tom trước tiên đã đến quán trọ diêm dúa nhất, khách thường lui tới nhiều nhất. 

Ở đây, phòng số hai đã được một nhân viên phòng công chứng mướn ở từ lâu. Ông này thì chẳng có gì nghi ngờ được. Kế đó, nó đến quán trọ thứ hai, ít nổi tiếng hơn. Nó đã hỏi chuyện được thằng bé con chủ quán mà không gây một chút ngờ vực. Theo lời thằng bé, phòng này gần như luôn luôn đóng cửa, người thuê bao giờ cũng chỉ về lúc ban đêm. 

- Ồ, ồ! Điều đó đáng lưu tâm đấy! - Huck bảo - Bây giờ bọn mình sẽ làm sao đây? 

- Này nhé, phòng ấy có lối vào thứ hai ở phía hậu, cửa này mở ra một đường cụt không ai qua lại. Bọn ta sẽ cố gắng đánh cắp được càng nhiều chìa khóa càng tốt để thử mở cửa trong đêm không trăng đầu tiên. Trong khi chờ đợi, ta phải chú ý tới Joe Da đỏ. Nếu cậu thấy hắn đâu, cứ rình theo hắn. 

- Một mình mình theo hắn, tớ thấy không yên lòng lắm... 

- Chà! Hắn đâu muốn nhắm trả thù cậu đâu, lại thêm đi trong đêm tối thì không có nguy hiểm gì cả. 

- Được, tớ sẽ cố. - Huck thở dài. 

- Đừng lo. Nếu trời tối, tớ cũng sẽ rình theo nó. Tớ nghĩ cuối cùng hắn phải lo đến số tiền thôi. 

Tối đó, Tom và Huck đứng canh chừng, một đứa theo dõi con đường cụt, đứa kia nhìn lối đi vào quán. Không có ai giống Joe Da đỏ, dù ít dù nhiều, đi vào đầu này cũng như đầu kia. Vì đêm trăng sáng nên không thể thử chìa khóa, Tom quyết định bỏ về nhà. Huck sẽ đến kêu meo meo dưới cửa sổ của nó nếu trời tối. Khoảng nửa đêm, Huck rời vị trí để đi ngủ trong cái thùng phuy theo thường lệ. 

Ngày thứ ba và thứ tư, kịch bản vẫn như cũ. 

Thứ năm có dấu hiệu tốt hơn. Tom ăn cắp cây đèn bão của dì nó, cẩn thận bọc trong một cái khăn lớn để che khuất ánh sáng. Hai đứa bạn bắt đầu đứng canh. Đến mười một giờ, quầy rượu.ở tầng trệt đóng cửa, khách về phòng mình và đèn đuốc tắt. Cả khu nhà tối om, đây là lúc thử thời vận. 

Tom tiến vào ngõ cụt, tay kẹp cây đèn trong khi Huck canh chừng. Thằng Huck tội nghiệp, lo cay cáy trong bụng; thời gian chờ đợi đối với nó dường như dài vô tận. Trong trí tưởng tượng phong phú của nó, diễn ra đủ thứ tai họa trì hoãn hoặc ngăn trở Tom trở về. Đột nhiên nó trông thấy cây đèn! Tom vẫn còn sống! Còn sống nhăn nên mới chạy hụt hơi như vậy... 

- Chạy mau đi! - Tom vừa phóng qua vừa bảo. 

Không một chút chần chờ, Huck cũng vắt giò lên cổ chạy theo Tom. Đến một nơi cách xa quán một khoảng đáng kể Tom mới tỏ bộ chạy chậm lại. Ngay khi lấy lại được hơi, Tom giải thích tình hình cho Huck hiểu. 

- Tớ đã thử hai chìa khóa không kết quả rồi tớ vô tình vặn quả nắm cửa. Thế là cửa mở ra, nó không khóa gì cả! Tớ lặng lẽ bước vào, cẩn thận gỡ khăn che cây đèn. Thế là tớ thấy gì? Tớ cuộc cậu đoán đấy? 

- Thôi Tom à, cậu đừng bắt tớ chết mòn, van cậu nói đi! 

- Tớ thấy Joe Da đỏ, nằm thườn thượt trên sàn nhà, nồng nặc mùi rượu. Bước thêm một bước nữa, e tớ đã giẫm ngón tay của hắn rồi... Nghĩ lại, tớ còn run! 

- Rồi sao nữa? 

- Sao à? Tớ phóng chạy chứ sao và lẳng lặng mà cút. Nếu là cậu, cậu làm gì nào? 

- Còn kho báu? Cậu có thấy cái rương không? 

- Theo như tớ nhìn thoáng qua trước khi bỏ chạy thì chẳng có cái rương lẫn cây thánh giá. Nhưng tớ không bảo đảm gì hơn! 

- Này Tom, nếu Joe Da đỏ say mèm, chúng ta có thể quay lại... 

- Tớ van cậu, Huck à. Toi mạng cậu đấy! 

- Ờ, cậu nói có lý, làm vậy liều quá. Tốt hơn ta nên đợi đêm nào đó thấy nó ra khỏi nhà: lúc đó, bọn ta tha hồ có thì giờ bình tĩnh lục lọi căn phòng. Cậu về đi, tớ đứng canh cho. Nếu có chuyện gì mới mẻ, tớ đến cho cậu hay. Từ nay về sau, tớ ngủ ban ngày và thức ban đêm...

Popular Post

Blogger templates

Được tạo bởi Blogger.

- Copyright © Món Quà Đặc BIệt -Metrominimalist- Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -