Archive for 2013
Cống hiến cuối cùng
Cuối cùng thì Linda Birtish đã hiến tặng toàn bộ cơ thể mình. Linda là một giáo viên rất nổi bật, cô nghĩ nếu có thời gian rảnh rỗi, cô sẽ năng vẽ những bức tranh tuyệt đẹp và sáng tác những bài thơ thật hay. Nhưng đến năm 28 tuổi, cô bắt đầu bị hành hạ bởi những cơn đau đầu dữ dội. Rồi một ngày nọ, bác sĩ phát hiện một khối u rất to ở trong não của cô. Họ bảo rằng cơ hội sống sót sau khi phẫu thuật chỉ khoảng hai phần trăm. Vì vậy, thay vì phải tiến hành phẫu thuật ngay, các bác sĩ quyết định trì hoãn thêm sáu tháng nữa.
Hơn ai hết, cô biết rõ mình có năng khiếu thiên bẩm về hội họa. Vì thế, trong thời gian sáu tháng chờ đợi cơ hội chiến thắng tử thần, cô lao vào làm thơ và vẽ tranh không mệt mỏi. Tất cả những bài thơ của cô, trừ duy nhất một bài, đều được đăng trên các tạp chí nổi tiếng. Tất cả các bức tranh của cô, trừ duy nhất một bức, đều được đem triển lãm và bán cho rất nhiều người tại một số phòng tranh danh tiếng. Cô gửi gắm vào những bức tranh có gam màu tươi sáng của mình một khát vọng sống mãnh liệt, và gieo vào những vần thơ một cách nhìn lạc quan, cho dù số phận có quay lưng lại với cô.
Sau sáu tháng dài chờ đợi, Linda cuối cùng cũng được phẫu thuật. Đêm trước ngày định mệnh ấy, cô quyết định sẽ cho đi tất cả những gì thuộc về mình. Cô viết một bản “di chúc” rằng nếu chết đi, cô xin được hiến tặng toàn bộ các bộ phận trên cơ thể mình cho bất kỳ ai đang cần chúng hơn cô.
Rủi thay, cuộc phẫu thuật thất bại. Thế là đôi mắt của cô được chuyển đến một ngân hàng mắt ở Bethesda, Maryland, và từ đó chuyển đến cấy ghép cho một bệnh nhân sống ở tận vùng phía Nam Carolina. Và một chàng thanh niên hai mươi tám tuổi mù lòa đã có thể nhìn thấy được. Người thanh niên và cả gia đình anh ấy đều rất đỗi vui mừng, anh gởi đến ngân hàng mắt một lá thư cảm ơn vì đã giúp anh được sáng mắt trở lại. Đó chỉ là lá thư cảm ơn thứ hai mà ngân hàng mắt nhận được sau khi đã cho đi hơn 30.000 đôi mắt!
Hơn thế nữa, chàng thanh niên nọ cũng muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình của người đã hiến tặng anh đôi mắt. Anh nghĩ rằng họ phải là những người vĩ đại lắm mới có được người con sẵn sàng cho đi đôi mắt của mình. Các bác sĩ cho anh địa chỉ của gia đình Linda và anh quyết định bay ngay sang Stalen Island để gặp mặt bằng được những người đã ban ơn cho mình. Không hề báo trước cho gia đình Linda, anh dò tìm được địa chỉ của ngôi nhà, đến trước cửa và bấm chuông. Sau khi nghe anh thanh niên giới thiệu về mình và mục đích của anh trong chuyến đi này, bà Birtish xúc động dang đôi tay ôm chầm lấy anh thanh niên nọ và nói:
“Này chàng trai trẻ, nếu con chưa tìm thấy chỗ nào để nghỉ, vợ chồng ta rất vui mời con ở lại chơi cùng chúng ta vào dịp cuối tuần này, con nhé?”
Anh thanh niên rất vui được ở lại cùng gia đình họ. Khi bà Birtish dẫn anh tham quan căn phòng của Linda ngày trước, anh thấy một cuốn sách của triết gia Plato trên kệ sách của Linda. Anh cũng đọc Plato bằng chữ Braille (chữ nổi dành cho người khiếm thị). Rồi anh nhận ra cô gái ấy rất thích đọc Hegel và một lần nữa, anh cũng từng đọc Hegel bằng chữ Braille.
Buổi sáng hôm sau, bà Birtish nhìn anh thanh niên với vẻ dịu dàng và nói:
“Con trai ạ, ta chắc chắn là đã gặp con ở đâu đó trước đây rồi, nhưng ta lại không tài nào nhớ được.”
Rồi bà chợt nhớ ra điều gì đó. Bà chạy vội lên lầu và lấy ra bức tranh cuối cùng cũng là bức duy nhất mà Linda không bao giờ chịu bán đi khi cô ấy còn sống. Đấy chính là bức chân dung người đàn ông lý tưởng mà cô đã gặp trong những giấc mơ của mình.
Thật ngạc nhiên, khuôn mặt trong bức họa kia giống hệt với khuôn mặt người thanh niên đã nhận đôi mắt của Linda.
Sau đó, người mẹ của Linda đọc cho anh nghe một đoạn trong bài thơ cuối cùng mà cô đã viết trên giường bệnh:
Trong giấc mơ, có hai trái tim vô tình gặp gỡ
Họ yêu nhau...
Nhưng mãi mãi trong cõi thực, họ sẽ không gặp nhau bao giờ.
- Jack Canfield và Mark Victor Hansen-
Một ly sữa
Một chàng trai nhà nghèo làm nghề giao hàng đến từng nhà để kiếm tiền trang trải học phí. Một hôm, anh thấy đói bụng trong lúc túi chỉ còn vỏn vẹn vài xu. Anh định sẽ đánh bạo xin một bữa ăn khi đến ngôi nhà kế tiếp.
Nhưng anh hết sức bối rối khi người mở cửa là một thiếu nữ khả ái. Vì vậy, thay vì hỏi xin thức ăn, anh lại hỏi mua một miếng nước uống. Thấy anh có vẻ đói lả, cô gái chạy vào nhà mang ra cho anh một ly sữa thật to. Anh chậm rãi uống một cách ngon lành rồi hỏi: “Tôi nợ cô bao nhiêu?”
Cô gái trả lời: “Anh bớt mệt chưa? Anh không nợ gì tôi cả. Mẹ tôi nói rằng nếu làm vì lòng tốt thì không bao giờ nhận tiền.”
Anh xúc động: “Vậy tôi chân thành cám ơn cô và mẹ cô.”
Rời căn nhà, anh cảm thấy ấm áp, niềm tin vào con người trong anh trào dâng. Sau này anh trở thành bác sĩ.
Nhiều năm sau, cô gái ngày ấy bây giờ lâm bệnh trầm trọng. Các bác sĩ địa phương bó tay. Họ phải gửi cô lên thành phố để chữa trị. Nhiều chuyên gia được mời đến để hội chẩn về căn bệnh hiếm gặp của cô, trong đó có bác sĩ Howard Kelly. Khi nghe đến tên thành phố nơi cô sống, một tia sáng khác lạ ánh lên trong mắt anh. Anh đứng phắt dậy, tìm đến phòng bệnh của cô.
Anh vào thăm khi cô đang mê man. Anh nhận ra cô ngay lập tức. Từ hôm đó, anh đặc biệt quan tâm đến ca bệnh của cô.
Ca bệnh được điều trị thành công sau nhiều ngày chiến đấu vất vả. Bác sĩ Kelly yêu cầu chuyển cho anh duyệt hóa đơn thanh toán cuối cùng.
Anh xem hóa đơn và viết thêm vài chữ. Người nữ bệnh nhân sợ phải mở hóa đơn ra xem, vì cô biết chắc rằng cô sẽ phải mất cả phần đời còn lại để trả hết món tiền ấy. Cuối cùng cô cũng phải mở ra nhìn vào hóa đơn, và thấy dòng chữ:
“Cô đã trả trước bằng một ly sữa”.
(Ký tên) Bác sĩ Howard Kelly.
Biến sự phẫn nộ thành động lực
Câu chuyện về sự phẫn nộ của Henry Ford, vua xe hơi và Hilton, vua khách sạn đã cho thấy tầm quan trọng của động lực đối với sự thành công.
Ông vua xe hơi Henry Ford từng kể lại rằng: Tất cả những gì ông ta có được ngày nay là xuất phát từ một chuyện nhỏ xảy ra ở một nhà hàng ăn.
Ngày trước, ông chỉ là một anh công nhân sửa chữa xe. Một lần, sau khi lĩnh lương tháng, ông rất vui sướng, bèn quyết định tới một nhà hàng cao cấp mà mình đã mong ước được đến từ lâu.
Nhưng ông đã ngồi trong phòng ăn tới gần 15 phút mà không có nhân viên phục vụ nào đến chào hỏi ông cả. Cuối cùng cũng có một người miễn cưỡng tới bên bàn, hỏi ông cần gọi gì.
Henry Ford rối rít gật đầu nhưng chỉ thấy người phục vụ tỏ vẻ khó chịu, quẳng thực đơn lên bàn một cách thô lỗ. Henry Ford vừa mở thực đơn xem thì nghe thấy người phục vụ nói giọng khinh miệt: “Không cần xem kỹ quá đâu, anh chỉ cần xem phần bên phải (ý chỉ giá tiền) thôi, phần bên trái chỉ là tên món ăn, không cần phí công làm gì!”
Henry Ford ngẩng đầu lên. Bắt gặp vẻ mặt đầy khinh miệt của người phục vụ, ông rất phẫn nộ. Ông định gọi ngay món ăn đắt nhất nhưng nhớ ra trong túi chỉ có vài đồng lương ít ỏi, nên đành phải nén cơn giận lại để chỉ gọi món hamburger.
Người phục vụ “hứ” một tiếng, ngạo mạn nhận lại thực đơn từ tay Henry Ford. Tuy không nói nhưng vẻ mặt anh ta đã cho Henry Ford thấy rõ anh ta nghĩ gì: “Tôi biết mà, một tên nghèo kiết như thế này, chẳng qua cũng chỉ ăn hamburger là cùng!”
Sau khi người phục vụ đi khỏi, Henry Ford ngồi im lặng suy nghĩ: Tại sao mình chỉ có thể ăn món mà mình ăn được chứ không thể ăn những gì mình muốn?
Ngay lúc ấy, Henry Ford đã hạ quyết tâm sẽ trở thành một nhân vật lớn trong xã hội. Cuối cùng, từ một anh công nhân sửa xe bình thường, Henry Ford đã trở thành một ông vua xe hơi nổi tiếng thế giới.
* * *
Chắc chắn ai cũng từng nghe qua cái tên Conrad Hilton, ông chủ tập đoàn khách sạn nổi tiếng nhất Thế giới.
Vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ, Conrad Hilton chỉ là một đứa trẻ mồ côi lưu lạc khắp nơi. Tối đến, ông tìm một nơi trú tạm để tránh mưa gió.
Một lần, Hilton tới thành phố nọ, mấy đêm liền ông đều ngủ trong góc hành lang của một khách sạn lớn. Một hôm, vào nửa đêm, khi Hilton đang ngủ, mấy người bảo vệ khách sạn đánh thức ông dậy, đuổi ông ra.
Hilton hỏi người bảo vệ: “Tôi ngủ ở đây có cản trở gì đến các ông đâu, tại sao lại đuổi tôi ra ngoài trời tuyết thế này?”
Một người bảo vệ đáp: “Sáng sớm mai, ngài chủ tịch tập đoàn sẽ tới thăm, người quản lý cho rằng nếu để mấy đứa trẻ lang thang nằm ở hành lang không chỉ vướng mắt mà còn có thể khiến ngài chủ tịch nổi giận và trách mắng, vì vậy phải đuổi chúng mày đi thôi”.
Hilton tức giận nói: “Ngài chủ tịch tập đoàn các ông cũng là người. Trời rét thế này thì cho chúng tôi ngủ lại một đêm, sáng mai sẽ đi cũng chưa muộn. Vì sao giữa đêm tối lại đuổi người ta ra giữa trời tuyết?”
Người bảo vệ đáp lại với vẻ vênh váo ngạo mạn: “Đó là lệnh của người quản lý, chúng ta chỉ y lệnh mà làm thôi”.
Hilton nghiến răng, nắm chặt hai tay lại mà rằng: “Các ông nghe đây, tôi nhất định sẽ xây dựng một khách sạn còn to và đẹp hơn khách sạn của các ông. Hãy nhớ những gì tôi đã nói đấy!”
Từ nỗi nhục này, Hilton đã hạ quyết tâm, ông không ngừng nỗ lực học tập, làm việc và tiết kiệm từng đồng tiền.
Cuối cùng, ông đã sáng lập ra khách sạn Hilton nổi tiếng và ngày nay đã trở thành hệ thống khách sạn lớn nhất thế giới.
Nếu bạn thiếu tự tin?
Chuyện gì sẽ xảy ra khi bạn không đủ nghị lực để vươn lên? Khi bạn thấy quá nhiều khó khăn? Bạn sẽ phải trả giá cho sự không quyết tâm và nhút nhát của mình.
Không ít người tìm thấy sự bình yên trong những nguyên trạng. Bằng lòng với cuộc sống tẻ nhạt có thể đem lại cho bạn sự yên tĩnh nhưng bạn sẽ có cảm giác gì khi 10 năm sau, gặp lại những người bạn đã lựa chọn khác, đã liều mình đuổi theo ước mơ, đã tự điều khiển cuộc đời, có một cuộc sống sôi nổi và thú vị, còn của bạn sẽ mãi mãi không thay đổi?
Lương tháng của bạn có thể cao hơn, nhưng đấy lại không phải những gì bạn mong muốn.
Bạn thử nhìn lại cuộc đời mình... đã có lúc nào bạn hối tiếc vì không làm, không nói một việc gì chưa?
Bạn có cảm giác gì khi phải từ bỏ ước mơ?
Điều đau đớn hơn là chính bạn đã lựa chọn con đường này!
Nếu điều ấy không hay thì tại sao bạn phải sống thêm 1, 2...10 năm trong nguyên trạng?
Đừng để những mong ước bị bám "bụi". Đừng bỏ qua những cơ hội trước mắt. Hãy phấn đấu và vươn lên !
Nhà văn người Mỹ Mark Twain đã nói: "20 năm về sau bạn sẽ hối tiếc những điều mình không làm hơn những điều bạn đã làm. Vì thế hãy gạt đi sự lo lắng, đón gió vào buồm... hãy mơ và khám phá!"
Gà và phượng hoàng
Lâu lắm rồi, ở một sườn núi rất lớn có một cái tổ chim phượng hoàng. Trong tổ chim có bốn cái trứng. Một ngày nọ, cơn địa chấn xảy ra, những hòn đá rung dữ dội. Một quả trứng phượng hoàng lăn xuống núi, lạc đến một nông trại nuôi gà nằm ở thung lũng bên dưới.
Một con gà mái đã tình nguyện nuôi nấng và chăm sóc quả trứng. Ít lâu sau, quả trứng nở ra và một con chim phượng hoàng xinh đẹp ra đời. Nhưng buồn thay, con chim phượng hoàng được dạy dỗ như một con gà. Chẳng muộn màng gì để con chim phượng hoàng nhận ra nó không hơn gì một con gà. Chim phượng hoàng yêu mái nhà và gia đình của mình nhưng tâm hồn nó càng tổn thương hơn.
Trong lúc đang chơi ở nông trại vào một ngày nọ, chim phượng hoàng nhìn thấy những con chim phượng hoàng đang cất cánh mạnh mẽ bay lên trên nền trời xanh thẳm. Chim phượng hoàng khóc “Ước gì tôi có thể bay được như những con chim ấy”. Những con gà xung quanh cười vang: “Bạn không thể bay được như những con chim ấy đâu! Bạn là một con gà và gà thì không thể bay trên bầu trời như thế được”.
Con chim phượng hoàng tiếp tục nghĩ về gia đình thực sự của nó ở trên bầu trời cao và ước mơ nó có thể được ở với họ. Nhưng những ước mơ của chú chim phượng hoàng tàn lụi dần vì nó nghĩ sẽ chẳng thể nào thực hiện được. Thời gian sau, chim phượng hoàng không mơ ước được bay cao nữa và tiếp tục cuộc sống như một con gà. Cuối cùng, sau một cuộc đời sống như gà, nó cũng chết đi như mọi con gà khác…
Bài học được rút ra từ câu chuyện: Chúng ta sẽ trở thành người mà chúng ta suy nghĩ trong tâm thức; vì thế, nếu bạn từng mơ trở thành chim "phượng hoàng" thì hãy vượt qua suy nghĩ mình là một "con gà".
Cơ hội
Giáo sư vật lý nổi tiếng George Gate muốn tìm một phụ tá cho mình khi nghiên cứu lĩnh vực truyền điện tín. Ông đăng báo tuyển phụ tá.
Căn phòng đợi hôm ấy chật ních. Mọi người đều chọn cho mình những bộ quần áo sang trọng nhất, nghiên cứu hàng chục sách về morse* trước khi đến đây. Họ đều phải chờ ở phòng ngoài cho tới khi được vị giáo sư mời vào phỏng vấn.
Trong khi chờ đợi, họ tán gẫu và cố gắng thể hiện kiến thức của mình. Chỉ có một chàng trai trẻ ngồi yên lặng chú tâm quan sát phòng làm việc của George Gate. Anh đã theo dõi sát sao những công trình nghiên cứu trước đó của vị giáo sư này và rất muốn góp sức với ông.
Nhiều giờ trôi qua, cửa phòng thí nghiệm vẫn đóng im ỉm. Nhà đợi vẫn ồn ã những tiếng bàn cãi sôi nổi. Bỗng chàng trai vẫn ngồi im lặng khi nãy khẽ mỉm cười, bật đứng dậy bước vào phòng thí nghiệm của giáo sư. Cánh cửa không hề khóa. Thoạt đầu họ nhìn chàng trai với ánh mắt thương hại vì cho rằng anh ta không đủ kiên nhẫn chờ và định xin bỏ cuộc. Nhưng không lâu sau, tất cả mọi người đều bất ngờ khi thấy giáo sư George từ phòng thí nghiệm bước ra cùng chàng trai trẻ.
- Xin cảm ơn mọi người đã đến đây, nhưng tôi đã tìm được người trợ lý thực sự có năng lực cho mình rồi. - Vị giáo sư chỉ vào chàng trai.
Mọi người hết sức bất bình trước quyết định đột ngột của giáo sư. Họ đã phải chờ đợi rất lâu, vậy mà thậm chí không có cả một cơ hội để chứng tỏ khả năng của mình.
Giáo sư chậm rãi giải thích:
- Các bạn đã không để ý nhưng ngay từ khi mọi người bước vào đây, máy điện tín của tôi đã liên tục đánh một dòng thông báo bằng tín hiệu như thế này: “Nếu bạn giải mã được lời nhắn này, hãy bước vào gặp tôi”. Tôi biết mọi người ở đây đều rất giỏi nhưng chỉ có một cơ hội và người biết tập trung vào mục tiêu chính khi đến đây đã giành được cơ hội đó.
Và chàng phụ tá trẻ đó chính là Thomas Edison, người đã góp phần làm thay đổi thời đại của chúng ta. Cơ hội là cho tất cả mọi người. Nhưng chỉ những người có đủ tập trung và nhạy bén mới đọc được thông điệp của nó.
Bí Quyết 90/10
Bí quyết đó là gì?
10% cuộc đời là những gì xảy đến đối với bạn.
Thế nghĩa là sao? Giờ hãy thử xét một ví dụ :
Bạn đang dùng điểm tâm cùng với gia đình. Con gái bạn làm đổ cà phê lên áo bạn. Chuyện đó xảy ra bất chợt, bạn không kiểm soát được. Điều xảy ra tiếp sau đó là phản ứng thuộc quyền quyết định của bạn. Bạn mắng cháu. Cháu phát khóc. Bạn trách cả vợ mình đã đặt tách cà phê quá gần rìa bàn. Hai người bắt đầu cãi nhau một hồi. Bạn đùng đùng bước lên lầu thay áo. Khi bạn trở xuống con bạn vẫn còn khóc, chưa ăn xong để đi học. Cháu bị lỡ chuyến xe đưa rước. Vợ bạn phải hối hả đi làm. Bạn đi nhanh ra, đưa con gái đến trường. Sợ trễ, bạn chạy xe vượt tốc độ cho phép. Sau khi chịu phạt nặng, bạn đưa con tới trường trễ hết 15 phút. Con bạn chạy nhanh vào lớp không kịp chào bạn. Bạn đến văn phòng trễ 20 phút, lại thấy mình bỏ quên chiếc cặp ở nhà. Ngày của bạn đã bắt đầu một cách thật khủng khiếp. Chuyện càng lúc càng tệ hại tiếp tục xảy ra.
Buổi chiều bạn buồn chán trở về nhà để thấy vợ con không vui vẻ đón mừng mình như ngày hôm trước.
Tại sao bạn có một ngày buồn chán như thế?
A. Tại tách cà phê chăng?
B. Tại con gái bạn chăng?
C. Tại người cảnh sát à?
D. Do bạn gây ra đấy chứ?
Câu trả lời đúng là D. Bạn đã không làm chủ cái 90% thuộc quyền phản ứng của mình. Cách phản ứng chỉ trong năm giây của bạn đã tạo nên một ngày bất hạnh.
Bạn cũng đã có thể phản ứng một cách khác. Khi tách cà phê đổ, cháu bé muốn khóc, bạn đã có thể nói: “Không sao đâu con, lần sau con nên cẩn thận hơn một chút”. Bạn nhẹ nhàng lên lầu thay áo và mang theo chiếc cặp. Bạn xuống nhà vừa kịp vẫy tay chào lại cháu bé lên xe đưa rước. Vợ chồng bạn hôn nhau rồi cùng đi làm. Bạn đến văn phòng sớm năm phút và vui vẻ chào các đồng nghiệp buổi sáng. Có lẽ sếp cũng khen bạn về một ngày làm việc có hiệu quả.
Hãy nhớ rằng phản ứng của bạn rất quan trọng. Chuyện bất ngờ xảy ra chỉ chiếm 10%, quyết định phản ứng của bạn chiếm tới những 90%. Hãy nhớ và áp dụng bí quyết 90/10 cho mọi việc xảy ra trong ngày, bạn sẽ thấy cuộc đời bạn tốt hơn thật nhiều. Chúc bạn thành công!
Ba người thầy vĩ đại
Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?"
Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.
Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm."
Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.
Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!"
Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.
Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?"
Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?"
Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.
Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.
Đôi tai của tâm hồn
Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.
Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.
“Cháu hát hay quá!”. Một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm rãi bước đi.
Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay nói lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại chậm rãi một mình bước đi.
Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không.
“Cụ già ấy đã qua đời rồi. Cụ ấy điếc đã hơn 20 năm nay” – một người trong công viên nói với cô. Cô gái sững người. Một cụ già ngày ngày vẫn chăm chú lắng nghe và khen cô hát lại là một người không có khả năng nghe?
Khi bạn bị “ném đi”
![]() |
| Andrew Jackson (1767 - 1845) |
Có một câu nói rất hay thế này: “Sức mạnh và lòng can đảm không phải luôn được đo đếm bằng những tấm huy chương và những chiến thắng. Mà sự mạnh mẽ phải được đo bằng những trận chiến mà chúng ta đã vượt qua. Những người mạnh mẽ nhất không phải luôn là những người chiến thắng, mà là những người không chịu bỏ cuộc ngay cả khi bị thua”.
Một câu chuyện khác thì kể rằng Andrew Jackson (1767-1845), vị Tổng thống thứ bảy của nước Mỹ, vốn cũng không phải là một người đặc biệt nổi bật từ khi còn nhỏ. Những người bạn thời thơ ấu của ông không thể hiểu được (và không thể tin nổi) tại sao ông lại trở thành một vị tướng nổi tiếng, rồi trở thành Tổng thống Hoa Kỳ. Họ còn quen biết những người khác tài năng hơn ông, nhưng lại không bao giờ thành công được. Một trong những người bạn của ông còn bình luận: “Tại sao không phải là Jim Brown, cậu bạn sống ngay gần nhà Jackson đấy? Brown không chỉ thông minh hơn, mà còn cao to hơn nữa. Cứ bốn lần đấu vật với Jackson thì đến ba lần cậu ấy ném được Jackson ra khỏi vòng đấu. Đấy, thế mà nhìn xem bây giờ Jackson đi được đến tận đâu”.
Một người bạn khác đáp: “Tại sao lại còn có lần đấu vật thứ bốn? Chẳng phải người ta vẫn nói quá tam ba bận, thua ba lần rồi thì thôi đó sao?”.
"Chắc chắn rồi, lẽ ra là như thế, nhưng với Jackson thì không phải vậy. Cậu ấy sẽ không bao giờ thừa nhận là mình bị đánh bại đâu. Cậu ấy mà bị “ném” thì cũng không bao giờ đành chịu như thế. Jim Brown sẽ mệt sau ba trận đấu, nên đến lần thứ tư, Jackson sẽ ném được Brown ra khỏi vòng đấu và trở thành người chiến thắng”.
Đúng vậy, ai cũng biết đến tính kiên định của Tổng thống Andrew Jackson. Ông sẽ không đành chịu “bị ném”. Và lòng quyết tâm đó đã giúp ông làm được rất nhiều việc trong nhiều năm liền.
Trong thực tế, cuộc sống sẽ đánh gục bạn từ lần này sang lần khác. Hẳn bạn đã từng gặp trường hợp như thế, và tôi cũng vậy. Những thất bại và những lần gục ngã không “tránh” bất kỳ ai. Nhưng một số người sẽ không chấp nhận chịu “bị ném” rồi nằm luôn ở đó. Họ sẽ lại đứng dậy, phủi sạch bụi và thử lại lần nữa. Đó là những con người không thiếu lòng can đảm. Cũng là những con người không thiếu lòng tin và hy vọng.
Có thể bạn đã bị đánh gục, một hoặc nhiều lần. Bạn sẽ chịu “bị ném” và nằm yên tại chỗ, hay bạn sẽ đứng dậy và cố hết sức mình thêm một lần nữa?
Một câu nói dịu dàng
Đây là câu chuyện mà tôi được một nhà tỷ phú kể cho nghe...
Nhiều năm về trước, có một cậu bé mồ côi tên Jim, 12 tuổi, gầy gò. Jim sống lang thang, là đầu mối của mọi trò cười và trêu chọc của mọi người sống trong thị trấn. Không ai đối xử tử tế với Jim. Những nghi ngờ của mọi vụ ăn cắp hay rắc rối đều có tên Jim đầu tiên. Cậu chỉ nhận được những lời nói cay độc, nghi ngờ. Kết quả là Jim luôn lẩn tránh những người xung quanh. Cậu càng lẫn tránh, người ta càng nghi ngờ cậu.
Tài sản duy nhất của Jim là chú chó Tige, cũng luôn khép nép và lẫn tránh mọi người như chủ nó. Jim không đối xử thô lỗ với Tige nhưng cậu cũng luôn dùng thứ ngôn ngữ cay độc mà mọi người dùng với cậu. Phần vì cậu đã quen với những ngôn ngữ đó, phần vì để trút đi mọi nỗi uất ức.
Một hôm, Jim thấy cô gái phía trước làm rơi một gói nhỏ. Cô cúi xuống nhặt thì một gói khác lại rơi khỏi tay. Jim chạy đến, nhặt hai cái gói lên đưa trả cô gái.
- Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt - Cô gái cười và xoa đầu Jim.
Jim hoàn toàn sốc. Đó là những lời nói tử tế đầu tiên cậu nghe thấy trong suốt 12 năm. Jim nhìn theo cô gái cho đến khi cô đi khuất.
... Jim huýt sáo gọi Tige, con chó ve vẩy đuôi chạy tới bên. Cả chủ và chó đi vào rừng... Jim ngồi xuống cạnh bờ suối và trong đầu cứ vang lên: "Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt!" - Jim cười một mình. Rồi cậu gọi: "Đến đây Tige!" Tige chạy lại ngay, Jim xoa đầu nó và nói: "Cảm ơn mày! Mày thật là tốt!"
Tige rất phấn kích và ngạc nhiên. Tai nó vểnh lên, mắt hướng về phía Jim chăm chú, đuôi vẫy lia lịa. "Đến con chó cũng thích nghe lời nói dịu dàng!" - Jim nghĩ và lôi trong túi ra một mảnh gương vỡ. Cậu bé thấy một khuôn mặt lấm lem. Jim rửa mặt thật cẩn thận. Sau đó, Jim lại nhìn vào gương. Cậu bé ngạc nhiên. Lần đầu tiên, cậu nhìn lên cao thay vì chỉ cúi mặt như mọi khi. Một cảm giác, cũng là lần đầu tiên cậu cảm thấy: cảm giác tự trọng.
Từ khoảng khắc đó, cuộc đời Jim hoàn toàn thay đổi bởi quyết tâm để xứng đáng với những lời nói dịu dàng.
Ngưng một lát, nhà tỷ phú tiếp tục nói: "Thưa các bạn, tôi chính là cậu bé đó. Thị trấn nhỏ mà tôi vừa kể đến chính là thành phố này 40 năm về trước. Cái cây ở đằng kia mà quý vị có thể thấy chính là nơi một người phụ nữ đã gieo hạt giống đầu tiên của lòng nhân hậu xuống cuộc đời tôi. Mong sao ai cũng có thể làm được như thế".
Bài học về sự nóng giận
Một hôm, một vị samurai đến thu nợ của người đánh cá.
Vị samurai nổi nóng, rút kiếm ra định giết người đánh cá ngay lập tức.
Rất nhanh trí, người đánh cá nói: “Tôi cũng đã học võ và sư phụ tôi khuyên không nên đánh nhau khi đang tức giận.”
Vị samurai nhìn người đánh cá một lúc, sau đó từ từ hạ kiếm xuống.
“Sư phụ của ngươi rất khôn ngoan. Sư phụ của ta cũng dạy như vậy. Ðôi khi ta không kiểm soát được nỗi giận dữ của mình. Ta sẽ cho ngươi thêm một năm để trả nợ và lúc đo chỉ thiếu một xu thôi chắc chắn ta sẽ giết ngươi.”
Vị samurai trở về nhà khi đã khá muộn.
Ông nhẹ nhàng đi vào nhà vì không muốn đánh thức vợ, nhưng ông ta rất bất ngờ khi thấy vợ mình và một kẻ lạ mặt mặc quần áo samurai đang ngủ trên giường.
Nổi điên lên vì ghen và giận dữ, ông nâng kiếm định giết cả hai, nhưng đột nhiên lời của người đánh cá văng vẳng bên tai: “Ðừng hành động khi đang giận dữ.”
Vị samurai ngừng lại, thở sâu, sau đó cố tình gây ra tiếng động lớn.
Vợ ông thức dậy ngay lập tức, kẻ lạ mặt cũng vậy, hoá ra đó chính là mẹ ông.
Ông gào lên: “Chuyện này là sao vậy. Suýt nữa con đã giết cả hai người rồi!”
Vợ ông giải thích: “Vì sợ kẻ trộm lẻn vào nhà nên thiếp đã cho mẹ mặc quần áo của chàng để doạ chúng.”
Một năm sau, người đánh cá gặp lại vị samurai.
“Năm vừa qua thật tuyệt vời, tôi đến để trả nợ cho ngài đây, có cả tiền lãi nữa”, người đánh cá phấn khởi nói.
“Hãy cầm lấy tiền của ngươi đi.” Vị samurai trả lời, “Ngươi đã trả nợ rồi.”
Người thầy tuyệt vời
Năm 18 tuổi, tôi đã thực hiện một chuyến đi chỉ với 50 đô-la. Tôi đi xe từ Los Angeles đến Berkeley. Niềm mơ ước được ngồi trong giảng đường của Berkeley đã trở thành hiện thực. Tôi đã trả tiền học phí cho một học kỳ và tiền trọ ở ký túc xá một tháng. Các khoản còn lại tôi phải lo tiếp. Ba mẹ rất nghèo nên không thể giúp tôi.
Tôi đã biết sống tự lập từ khi mới 15 tuổi. Lúc đó, sau khi ra khỏi lớp học vào mỗi buổi trưa, tôi phải đi giữ trẻ cho đến nửa đêm. Trong suốt thời gian ở trung học và năm đầu đại học, những công việc phải làm thêm đã ngăn cản việc tham dự những hoạt động ngoại khóa mà tôi thường ước mong. Về trường Berkeley, tôi hy vọng nhận được học bổng để khỏi phải đi làm thêm.
Tuần lễ đầu, tôi nhận được công việc chạy bàn, giữ trẻ và rửa chén. Như vậy, tôi đỡ được một phần tiền trọ học. Cuối học kỳ, tôi được điểm B để có thể xin học bổng. Tôi chỉ cần lấy thêm một điểm B ở kỳ thi tới nữa là đủ.
Đối với tôi, đến Berkeley không phải để học những môn mà tôi không thích. Tôi muốn học được môn nào đó có giá trị. Tôi tin mình sẽ có ưu thế ở những môn khó. Kết quả là tôi chọn môn nghiên cứu về văn học.
Giáo sư Sears Jayne phụ trách môn này. Ông đi qua đi lại trên bục giảng của giảng đường rộng thênh thang, giảng bài cho cả ngàn sinh viên.
Tôi rất thích thú với những điều giáo sư giảng dạy. Đối với nhiều sinh viên, họ cảm thấy bị bắt buộc học môn này; nhưng mỗi buổi học đối với tôi giống như một bữa tiệc có nhiều món ăn ngon và những ý tưởng đặc biệt. Các bạn ở cùng ký túc xá cũng học lớp này, họ muốn tôi giúp đỡ. Chúng tôi lập một nhóm cùng học tập và tôi làm trưởng nhóm.
Bài thi đầu tiên của môn này có nhiều câu hỏi, tôi làm rất hay. Nhưng tôi nhận được số điểm không thể nào tin nổi, chỉ có 77 điểm và C cộng. Tôi rất kinh ngạc, vì tôi giỏi về môn văn học. Còn các bạn trong nhóm học là "học trò" của tôi đều được điểm B. Họ đã cám ơn tôi, nhờ tôi mà họ được kết quả tốt như thế! Chẳng những buồn mà tôi còn cảm thấy "xấu hổ" hơn.
Người trợ giảng đưa tôi đến gặp giáo sư Jayne. Ông nghe tôi cãi lý một cách hăng hái, nhưng vẫn không thay đổi quyết định.
Từ trước, tôi chưa bao giờ hỏi số điểm của mình. Bây giờ tôi hỏi không phải để xin xỏ cho học bổng. Tôi chỉ cần sự công bằng, không cần sự thương hại. Tôi luôn tin chắc rằng bài làm của tôi đáng được điểm cao.
Tôi nỗ lực làm việc nhiều hơn, dù tôi không biết làm như thế thì có ý nghĩa gì; vì từ trước đến nay tôi thấy bài ở trường quá dễ, không cần phải cố gắng gì cả. Tôi vẫn kiên nhẫn tìm việc làm thêm. Tôi đọc sách kỹ hơn. Nhưng tất cả cố gắng lần này của tôi cũng chỉ được ghi nhận bằng con số 77 và C "cộng" một lần nữa; còn B và A thì dành cho các bạn cùng nhóm. Họ lại cám ơn tôi!
Tôi tiếp tục tìm đến giáo sư Jayne và hỏi cho ra lẽ đâu là sự công bằng của ông khi chấm bài. Lần này, giáo sư vẫn lắng nghe tôi, thảo luận với tôi; nhưng kết cuộc thì điểm C vẫn như cũ. Ông tỏ vẻ thích thú nhận xét của tôi về quan điểm của ông trong bài giảng, nhưng giấc mơ của tôi về học bổng và hoạt động ngoại khóa dần dần tiêu tan.
Trước kỳ thi cuối, lại có một bài kiểm tra nữa; đó là cơ hội cho tôi "lấy lại uy tín". Nhưng biết đâu nó có thể lại là cái rào cản. Chúng tôi sẽ làm bài liên quan đến tác phẩm của T.S Eliot, The Wasteland. Quyển sách này chỉ có loại bìa cứng, nên quá đắt so với số tiền bé nhỏ mà tôi có.
Tôi mượn sách của thư viện. Dù sao tôi cũng cần một quyển của riêng mình để ghi chú vào đó. Năm 1951, chưa có máy photocopy. Vì thế, tôi phải dùng cái máy đánh chữ Royal xưa lắc, nhưng nó rất trung thành với tôi và tôi phải đánh máy đến 420 trang. Tôi phải vừa chạy bàn, rửa chén, đi học, giữ trẻ, vừa hướng dẫn nhóm học mà còn phải tìm cách đọc cho hết những trang sách đó.
Và tôi đã cố gắng gấp hai với bài kiểm tra lần thứ ba này. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là ý nghĩa của hai chữ "hoàn hảo". Nhưng rồi mọi cố gắng của tôi dù hết mức đến đâu vẫn dẫn đến kết quả hoàn toàn không tốt. Tất cả vẫn như cũ, vẫn 77 điểm và C "cộng".
Tôi tức tốc đến phòng giáo sư Jayne, đưa tất cả bài làm trước của mình ra và gặng hỏi về số điểm. Nhìn thấy cuốn sách The Wasteland được đánh máy, giáo sư hỏi "Cái gì đó?".
Chuyện đó không có gì lạ, tôi nhanh chóng đáp rằng : "Em không có tiền mua sách, nên em đã đánh máy". Tôi thấy nét mặt của giáo sư thay đổi. Ông im lặng hơi lâu.
Sau đó chúng tôi lại bàn về đề tài lý thú là các nhà văn muốn nói gì trong các tác phẩm. Kết thúc câu chuyện, tôi ra về với số điểm y như cũ, 77 điểm,một con số xui xẻo cứ đeo theo tôi mãi, cùng với sự xấu hổ của một trưởng nhóm hướng dẫn các sinh viên học tập mà kết quả lại kém điểm họ.
Và kỳ thi chính cũng đã đến. Dù tôi cố gắng đến đâu chăng nữa thì ba con C "cộng" kia cũng không thể xóa bỏ được. Tôi nghĩ chắc đã đến lúc mình phải tạm biệt với việc xin học bổng. Chẳng được ích lợi gì cả, hai con mắt tôi muốn tét ra luôn mà vẫn đành chào thua con số 77.
Tôi không học bài nữa. Tôi đã thuộc các tác phẩm hơn bao giờ hết. Bởi lẽ tôi đã đọc những quyển sách đó rất nhiều lần và đã từng giải nghĩa cho các bạn tôi mà. Chính những câu, những chữ của The Wasteland vẫn còn vang dội trong đầu tôi đó thôi. Vì thế, trước ngày đi thi, tôi tự thưởng mình một chầu xi-nê.
Thong thả bước vào giảng đường, tôi nhất định làm cho kỳ thi này trở thành trò giải trí. Tôi nhốt các nhà văn mà tôi đã học trên một hòn đảo và tôi ghi lại cuộc tranh cãi tưởng tượng giữa họ với nhau về vị trí của mình. Tôi làm việc điên khùng này, vì tôi có gì đâu mà sợ mất chứ. Dòng chữ cứ thế mà tuôn ra và những điều mà tôi đã tranh luận với giáo sư Jayne đã giúp tôi viết được một cách dễ dàng.
Tuần lễ sau, đi ngang văn phòng, nhân tiện tôi vào lục xấp bài thi để tìm bài của tôi. Ồ, thật không thể nào tin được con mắt mình, trên bài thi bìa xanh của tôi có ghi điểm màu đỏ chói, tôi được điểm A!
Tôi chạy nhanh đến phòng giáo sư Jayne. Dường như ông đang chờ tôi, mà nào có hẹn trước đâu. Tôi tức giận phản đối ông. Tại sao ba lần tôi bị C "cộng" với những bài mà tôi đã tốn hết công sức học; còn bây giờ bài làm giỡn chơi thì lại được điểm A?
"Nếu tôi cho em những điểm A trong khi em hoàn toàn xứng đáng được thì em sẽ không tiếp tục cố gắng hết mình nữa".
Tôi trố mắt nhìn giáo sư và hiểu ra rằng cái chiến lược của ông đúng hoàn toàn. Thực sự là tôi đã cố gắng đến nỗi sắp vỡ cả đầu, điều này trước đây tôi chưa bao giờ làm.
Giáo sư đứng lên và đến kệ sách rút ra một quyển sách và nói: "Của em !"
Đó là quyển The Wasteland bằng bìa cứng, ở trang trong có ghi chữ tặng tôi. Lần đầu tiên, đối với kẻ lắm lời như tôi, tôi không thể nói gì được.
Một lần nữa, tôi không nói nên lời khi số điểm của toàn khóa học của tôi được công bố là A "cộng". Tôi tin rằng con A "cộng" chính là con số trời cho.
Một năm sau, tôi đã được học bổng và tham gia các hoạt động ngoại khóa. Rồi tôi viết và biểu diễn hát, múa trong vở kịch vui mà Hội Sinh viên dàn dựng. Tôi viết bài phê bình sâu khấu cho tờ báo ngày của sinh viên, tờ Daily Cat. Tôi viết kịch một màn, một trong những vở kịch đầu tiên của trường đại học. Tôi diễn những vở kịch của khoa kịch nghệ dàn dựng.
Những đốm lửa sáng tạo được gầy dựng từ những chồng chén đĩa mà tôi rửa, từ những đống tã mà tôi giặt giũ, từ vô số công việc vất vả... đã hừng cháy sáng lên. Tôi không nhớ nhiều những gì đã học ở trường vào năm tháng xa xưa ấy, nhưng niềm vui khi viết và diễn kịch thì tôi không bao giờ quên .
Và tôi ghi nhớ mãi bài học của giáo sư Jayne: "Hãy nhớ rằng bạn chưa rút hết năng lực của bạn, bạn phải sử dụng chúng kể cả khi bạn có được chúng mà không cần cố gắng. Chính bạn mới xác định được cho mình thế nào là xuất sắc."
Chúng ta mạnh hơn chúng ta nghĩ
Một cậu bé đi cùng bố đến hội chợ và nhìn thấy một quả bóng bơm hơi rất lớn hình chú hề, trên ngực có dòng chữ: “Thử đánh ngã tôi xem nào!”.
Cậu bé đấm, đập, đẩy “chú hề”, tấn công đi tấn công lại, nhưng cậu bé càng đánh mạnh, thì dường như “chú hề” càng nảy bật lại vị trí cũ nhanh hơn. Dù cố đến đâu, cậu bé cũng không khiến cho chú hề bị ngã guc được. Trong khi cậu bé ra sức đấm “chú hề”, bố cậu bé vẫn đứng quan sát, và khi thấy con mình có vẻ thấm mệt, ông bố hỏi:
- Theo con thì tại sao chú hề vẫn đứng bật dậy, dù con đánh mạnh đến đâu?
Cậu bé gãi đầu lúng túng, rồi đáp:
- Bố ạ, con nghĩ chú hề này đang đứng vững ở bên trong.
Bạn có biết rằng mỗi chúng ta đều có khả năng đứng vững ở bên trong? Hãy để tôi giải thích.
Tôi từng đọc bài báo trên tạp chí về một người phụ nữ lớn tuổi ở vùng nông thôn bang Florida (Mỹ). Bà mới trải qua một thời gian dài bệnh tật và mới đang hồi phục, chứ chưa đi lại được bình thường. Hàng ngày, bà phải ngồi trên xe lăn, nên việc làm ưa thích của bà là ngồi ở hiên nhà cho thoáng mát. Một hôm, khi ngồi trên xe lăn ở ngoài hiên, bà nhìn thấy con trai mình đang sửa ô tô. Anh con trai dùng mấy súc gỗ lớn để kê chiếc ô tô lên, rồi tháo các bánh xe ra, và chui vào gầm xe để sửa.
Bất chợt, một tiếng nứt vỡ lớn vang lên và chiếc ô tô trượt sang một bên, đè lên anh con trai bên dưới. Người phụ nữ hét lên sợ hãi, gọi chồng đến giúp. Người chồng lao đến nhưng không làm cách nào để nâng chiếc ô tô lên cho anh con trai chui ra được. Ông vội vã chạy ra ngoài tìm người giúp – nhưng ở vùng nông thôn vắng vẻ này thì mỗi trang trại cũng cách xa nhau, nên không thể tìm người đến nhanh được.
Người mẹ - vốn đã không thể đi lại trong nhiều tháng nay, nhận ra tiếng rên cầu cứu của con trai mình ngày càng yếu đi, và bà biết rằng có cứu được anh con trai không là phụ thuộc vào bà. Bà cảm thấy con mình có thể chết, và bà phải hành động ngay lập tức.
Bà cố đứng dậy, với đôi chân run rẩy, và vừa lê, vừa bò đến chỗ xe ô tô. Cố gắng đứng thẳng hơn một chút, bà bắt đầu nhấc. Chiếc xe được nâng lên vài cm, rồi thêm vài cm nữa – rồi vừa đủ để anh con trai bò ra ngoài. Và rồi bà mẹ đổ sập xuống.
Sau khi kiểm tra kỹ càng, các bác sĩ kết luận rằng người mẹ chỉ bị căng cơ. Và lời nhận xét đầy hoài nghi của người bác sĩ đã nói lên được nhiều nhất: “Tôi cứ luôn tự hỏi, là bà ấy có thể nhấc được cái xe ô tô lên cao đến đâu nếu bà ấy hoàn toàn khỏe mạnh, không bệnh tật gì?”.
Chúng ta đều đã đọc những câu chuyện tương tự về những người thể hiện được sức mạnh phi thường trong những hoàn cảnh khó khăn, khẩn cấp. Cứ gọi đó là những điều kỳ diệu. Cứ gọi đó là những món quà thiêng liêng. Hay cứ gọi đó là phản ứng sinh lý học khi một bản năng nào đó trỗi dậy. Người mẹ này, và nhiều người khác giống bà, đều tìm thấy sức mạnh mình cần, vào thời điểm mình cần, để đối diện với cuộc khủng hoảng trước mắt.
Và điều đó cũng đúng với tất cả chúng ta. Khi cuộc sống khiến chúng ta gục ngã và tưởng chừng không thể đứng dậy nổi, khi cuộc sống đòi hỏi ở chúng ta nhiều hơn mức chúng ta có thể thực hiện, thì hơn bao giờ hết, chúng ta cần tìm được cách để làm những gì cần làm. Chính vào những lúc như thế, chúng ta đối diện với một nguồn sức mạnh ẩn giấu mà chúng ta còn chưa bao giờ biết là mình có.
Chúng ta mạnh hơn chúng ta nghĩ. Cũng như trái bóng lớn hình chú hề, cả chúng ta cũng có khả năng nảy bật dậy. Chúng ta có những nguồn sức mạnh về cảm xúc, tinh thần và cả thể chất bên trong mình. Chúng ta có thể bị đánh gục, nhưng chúng ta không nhất thiết phải gục ngã luôn.
Đó chính là đứng vững ở bên trong. Và khi chúng ta tìm được sức mạnh để làm điều đó, thì chúng ta sẽ có thể đứng vững trước bất kỳ điều gì mà cuộc sống đặt ra trên con đường của mình.
Sống tích cực - Đơn giản là ngước nhìn lên cao!
Khi không có giải pháp nào xuất hiện ngay trước mắt, thì con người rất dễ kết luận rằng không có một giải pháp nào cả. Nhưng thực tế đã chứng minh, từ lần này sang lần khác, rằng giả thuyết đó là sai lầm...
Bạn hãy nghe những câu chuyện này nhé...
Chuyện về loài chim ó:
Nếu bạn đặt một con chim ó vào một chiếc lồng, với kích thước khoảng 2m x 2,5m, và hoàn toàn không có nóc, tức là phần trên được mở toang; thì cho dù vẫn có khả năng bay lên, nhưng con chim này sẽ hoàn toàn trở thành một... tù nhân.
Lý do là một con chim ó luôn bắt đầu bay từ mặt đất lên, với đoạn “chạy đà” khoảng 3- 4m. Không có quãng đường để chạy, thì theo thói quen, chú chim thậm chí chẳng buồn cố gắng thử bay lên, mà sẽ chấp nhận bị cầm tù suốt đời, trong một “nhà giam” nhỏ chẳng hề có mái!
Câu chuyện về con dơi:
Một con dơi bình thường luôn bay ra ngoài vào buổi tối. Nó là một sinh vật nhanh nhẹn, linh lợi đến mức ấn tượng.
Tuy nhiên, nó không thể cất cánh từ một địa điểm bằng phẳng. Nếu nó được đặt trên sàn hoặc một mặt phẳng, thì tất cả những gì nó có thể làm là lê bước loanh quanh một cách vô vọng, và, tất nhiên, một cách đau khổ.
Cho đến khi nó tìm được một độ cao nào đó, chỉ cần là một góc nâng nhỏ thôi, để từ đó, nó có thể tung mình vào không trung. Và, ngay lập tức, nó bay lên như một tia chớp.
Câu chuyện về loài ong nghệ:
Một con ong nghệ, nếu bị thả vào một cái cốc lớn không có nắp, cũng sẽ ở đó cho đến khi chết, trừ phi chúng ta lôi nó ra.
Nó không bao giờ nhìn thấy đường thoát ở phía trên, mà cứ khăng khăng cố gắng tìm cách nào đó thoát ra qua các mặt bên, hoặc qua... đáy cốc. Nó sẽ tìm một con đường ở nơi mà không có con đường nào tồn tại, cho đến khi nó hoàn toàn tự hủy hoại mình.
Câu chuyện về con người:
Theo rất nhiều cách, chúng ta cũng giống như con chim ó, con dơi và con ong nghệ. Chúng ta vật lộn với tất cả các vấn đề rắc rối và tuyệt vọng của mình, mà không bao giờ nhận ra rằng rất có thể một giải pháp ở rất gần, chỉ cần chúng ta nhìn lên cao hơn – hay nhìn hướng tới phía trước.
Nhìn ngược lại có thể khiến bạn buồn bã. Nhìn quanh có thể khiến bạn lo lắng. Hãy nhìn lên cao, và nhìn tới phía trước, đó là cách sống lạc quan. Và tinh thần tích cực, nhiều hy vọng chính sẽ giúp bạn tìm ra giải pháp trong hầu hết các trường hợp.
Có một tác giả đã viết: “Khi không có giải pháp nào xuất hiện ngay trước mắt, thì con người rất dễ kết luận rằng không có một giải pháp nào cả. Nhưng thực tế đã chứng minh, từ lần này sang lần khác, rằng giả thuyết đó là sai lầm”.
Chỉ cần bạn nhìn lên cao hơn, rộng hơn tình huống hiện tại, rất có thể bạn sẽ thấy một lối đi ngay trước mắt mình, Sống đơn giản, yêu thật lòng, quan tâm sâu sắc, nói lời tới phía trước. Đó là câu trả lời cho mọi vấn đề.
Cuộc gọi lúc nửa đêm
Nửa đêm. Chuông điện thoại reo vang làm người mẹ thức giấc. Như chúng ta biết, ai nghe điện thoại reo lúc nửa đêm cũng bực mình nhìn đồng hồ và lẩm bẩm... Nhưng buổi đêm đó thì khác, người mẹ ấy cũng khác.
Nửa đêm. Những ý nghĩ lo lắng bỗng tràn đầy trong đầu óc của người mẹ. Và người mẹ nhấc máy "Alô ?". Bỗng bà nghĩ đến con gái mình. Bà nắm ống nghe chặt hơn và nhìn về phía người bố, lúc này đã tỉnh dậy xem ai đã gọi điện cho vợ mình.
- Mẹ đấy ạ? – Giọng nói trên điện thoại cất lên, như đang thì thầm, rất khó đoán là người gọi bao nhiêu tuổi, nhưng chắc chắn là cô gái đó đang khóc. Rất rõ. Giọng thì thầm tiếp tục:
- Mẹ, con biết là muộn rồi. Nhưng đừng nói ... đừng nói gì, để con nói đã. Mẹ không cần tra hỏi đâu, đúng con vừa uống rượu. Con mới ra khỏi đường cao tốc và... Có cái gì đó không ổn.
Người mẹ cố im lặng...
- Con sợ lắm. Con chỉ vừa mới nghĩ là mẹ có thấy đau lòng không nếu một cảnh sát đến cửa nhà mình và bảo con đã chết vì tai nạn. Con muốn... về nhà. Con biết, một đứa con gái bỏ nhà đi quả thật là hư hỏng. Con biết có thể mẹ lo lắng. Lẽ ra con nên gọi cho mẹ từ mấy ngày trước, nhưng con sợ... con sợ...
Người mẹ nắm chặt ống nghe, nuốt tiếng nấc. Người mẹ nén những cái nhói lên đau đớn tận trong tim. Khuôn mặt con gái bà hiện rõ ràng ngay trước mặt bà. Bà cũng thì thầm: "Mẹ nghĩ...".
- Không! Mẹ để con nói hết đã! Đi mẹ... - Giọng cô gái năn nỉ, lúc này giọng cô gái như một đứa trẻ không được che chở và đang tuyệt vọng.
Người mẹ đành dừng lại, và bà cũng đang nghĩ xem nên nói gì với con. Giọng cô gái tiếp:
- Con là đứa hư hỏng, mẹ ạ! Con trốn nhà! Con biết con không nên uống rượu say thế này, nhưng con sợ lắm, mẹ ơi! Sợ lắm... - Giọng nói bên kia lại ngắt quãng bởi những tiếng nấc. Người mẹ che miệng, mắt đầy nước.
Tay người mẹ chạm vào ống nghe điện thoại làm vang lên tiếng "cạch", nghe như tiếng đặt máy, cô gái vội kêu lên:
- Mẹ còn nghe con không? Con xin mẹ đừng đặt máy! – Con cần mẹ, con thấy cô đơn lắm!
- Mẹ đây, mẹ sẽ không đặt máy đâu – Người mẹ nói.
- Mẹ ơi, con lẽ ra phải nói với mẹ. Con biết lẽ ra con phải nói với mẹ. Nhưng khi mẹ nói chuyện với con, mẹ chỉ luôn bảo con là phải làm gì. Mẹ nói mẹ đã đọc hết quyển sách tâm lý và biết cách dạy con, nhưng tất cả những gì mẹ làm là chỉ bắt con nghe thôi. Mẹ không nghe con. Mẹ không bao giờ để con nói với mẹ là con cảm thấy ra sao. Cứ như là cảm giác của con chẳng quan trọng gì vậy. Có phải vì mẹ nghĩ mẹ là mẹ của con và mẹ biết hết mọi lời giải đáp không ? Nhưng đôi khi con không cần những lời giải đáp. Con chỉ cần một người lắng nghe con...
Người mẹ lặng đi. Bà nhìn những quyển sách tâm lý bà để ở đầu giường. - Mẹ đang nghe con đây – Người mẹ thì thầm.
- Mẹ ơi, khi ở trên đường cao tốc, con không điều khiển nổi xe nữa. Con nhìn thấy một cái cây to lắm chắn đường con. Con muốn đâm vào nó. Nhưng con cảm thấy như con đang nghe mẹ dạy rằng không thể lái xe khi vừa uống rượu. Cho nên con dừng lại đây. Mẹ ơi, vì con vẫn còn... muốn về nhà – Cô gái dừng lại một chút – Con đi về nhà đây, mẹ, cho con về, mẹ nhé?
- Không – người mẹ vội ngắt lời, cảm thấy cơ thể như đông cứng lại – Con ở yên đó! Mẹ sẽ gọi một chiếc taxi đến đón con. Đừng tắt máy, hãy nói chuyện với mẹ trong khi chờ taxi đến.
- Nhưng con muốn về ngay, mẹ ơi...
- Nhưng hãy làm điều này vì mẹ, hãy chờ taxi đi, mẹ xin con.
Người mẹ thấy cô gái im lặng. Thật đáng sợ. Không nghe cô trả lời. Người mẹ nhắm mắt, thầm cầu nguyện trong khi người bố đi gọi một chiếc taxi. Cô gái im lặng rất lâu nhưng cô không tắt máy và người mẹ cũng vậy.
- Có taxi rồi mẹ ạ! – Tiếng cô gái bỗng vang lên và có tiếng xe ôtô dừng lại. Người mẹ bỗng thấy nhẹ nhõm hơn.
- Con về nhà ngay đây, mẹ nhé!
Có tiếng "tích", có lẽ là tiếng tắt máy điện thoại di động. Rồi im lặng. Người mẹ đứng dậy, mắt nhòe nước. Bà đi vào phòng cô con gái 16 tuổi. Người bố đi theo, và hỏi:
- Em có nghĩ là cô bé đó sẽ biết là cô đã gọi nhầm số điện thoại?
Người mẹ nhìn đứa con gái đang ngủ ngon trên giường, và trả lời:
- Có lẽ cô bé đã không gọi nhầm...
- Bố mẹ làm gì thế ? – Giọng ngái ngủ của cô con gái cất lên khi cô mở mắt và thấy bố mẹ đứng cạnh giường mình.
- Bố mẹ đang tập... – Người mẹ trả lời.
- Tập gì ạ ? – Cô bé lẩm bẩm, gần như lại chìm vào giấc ngủ.
– Tập lắng nghe – Người mẹ nói thầm và vuốt tóc cô con gái...
Chạy đi, Patti, chạy đi!!!
Ngay từ nhỏ, Patti Wilson đã được bác sĩ bảo rằng cô bị bệnh động kinh (epileptic). Cha của cô, Jim Wilson, là người thường xuyên tập luyện chạy bộ vào buổi sáng. Một ngày kia cô nói với cha cô "Cha ơi, con rất muốn chạy với cha hàng ngày, nhưng con sợ con sẽ bị lên cơn." Cha cô nói với cô "Nếu con bị thì cha đã biết cần phải làm gì rồi nên đừng sợ, chúng ta cùng bắt đầu chạy."
Rồi họ chạy mỗi ngày. Thật là điều kỳ diệu đối với họ là cô bé đã không bị lên cơn lần nào. Sau vài tuần, cô nói với cha "Cha ơi, con thật sự muốn phá kỷ lục thế giới quãng đường chạy dài nhất của nữ." Cha cô tìm trong cuốn sách các kỷ lục thế giới Guiness và thấy rằng khoảng cách lớn nhất mà có người phụ nữ đã từng chạy là 80 dặm. Lúc đó Patti mới vào năm đầu tiên ở trung học, cô tuyên bố "Con sẽ chạy từ quận Cam (Orange County) tới San Francisco." (Khoảng cách 400 dặm.) "Ðến năm thứ hai, con sẽ chạy tới Portland, Oregon." (Khoảng hơn 1500 dặm.) "Tới năm thứ 3, con sẽ chạy tới St. Louis." (Khoảng 2000 dặm.) "Tới năm cuối, con sẽ chạy tới Nhà Trắng." (Khoảng hơn 3000 dặm đường.)
Patti đầy nghị lực cũng như say mê hăng hái, cô chỉ coi bệnh của mình như là một điều "bất tiện". Cô không tập trung vào cái cô mất đi mà tập trung vào điều mà cô đang còn có.
Vào năm đó cô hoàn thành cuộc chạy đến San Francisco với chiếc áo thun ghi dòng chữ "I Love Epileptics." Cha của cô chạy bên cạnh cô trên suốt quãng đường, và mẹ cô, một nữ y tá, thì lái xe theo để đề phòng mọi trường hợp có thể xảy ra.
Vào năm thứ hai, các bạn học của Patti đã ủng hộ cô. Họ dựng lên một áp phích quảng cáo khổng lồ ghi "Chạy đi, Patti, chạy đi!" (Run, Patti, Run! - và sau đó đã trở thành khẩu hiệu của cô cũng như tựa đề cuốn sách sau này cô viết.) Trên đường thực hiện cuộc chạy đường dài mà đích đến là Portland, cô đã bị nứt gãy xương ở chân. Bác sĩ nói với cô rằng cô phải dừng không thể được chạy nữa. Ông nói "Tôi phải cố định khớp mắt cá của cháu để cháu không bị tật vĩnh viễn." "Bác sĩ, bác không hiểu rồi," cô nói "đây không phải là ý nghĩ bất chợt của cháu, nó thật sự là tấm lòng của cháu! Cháu không làm điều này vì bản thân cháu, cháu làm vậy để phá bung những xiềng xích trong suy nghĩ của nhiều người khác. Có cách nào để cháu vẫn có thể chạy tiếp được không hả bác?" Bác sĩ cho cô một lựa chọn. Ông chỉ băng bó lại thay vì bó bột cố định nó. Ông cảnh cáo cô rằng nó sẽ rất đau, sẽ bị sưng tấy lên. Cô nói với bác sĩ hãy băng chặt lại cho cô.
Cô hoàn thành cuộc chạy đến Portland với Thống đốc bang cùng chạy chung trên dặm đường cuối cùng. Bạn cũng có thể đã thấy những tờ báo với tiêu đề "Người Vận Ðộng Viên Chạy Siêu Ðẳng, Patti Wilson, Ðã Hoàn Thành Cuộc Marathon Cho Người Bị Bệnh Ðộng Kinh Vào Sinh Nhật Thứ 17 Của Cô."
Sau bốn tháng chạy gần liên tục từ bờ Tây sang bờ Ðông, Patti đã tới Washington và bắt tay Tổng thống Hoa Kỳ. Cô nói với ông "Cháu muốn mọi người biết rằng người bị động kinh chỉ là những con người bình thường với cuộc sống bình thường."
Tôi kể về câu chuyện này một lần trong một buổi hội thảo của tôi cách đây không lâu, và sau đó một người đàn ông cao lớn đến gặp tôi. Ông đưa bàn tay khổng lồ cho tôi bắt và nói "Mark, tôi tên là Jim Wilson. Anh vừa kể về con gái tôi, Patti." Ông kể rằng nhờ vào sự cố gắng không ngừng của cô bé, kết quả là đã kêu gọi đóng góp để mở được 19 trung tâm chữa bệnh động kinh trị giá nhiều triệu đô la.
Patti Wilson cần thật ít để có thể làm được được thật nhiều như vậy. Còn bạn thì sao? Bạn có thể làm gì để vượt lên chính bản thân mình trong khi có đầy đủ sức khỏe?
2 đôla và 1 giờ
- Bố ơi, con hỏi bố một câu được không?
- Được chứ, con hỏi gì? - Ông bố đáp.
- Bố ơi, bố làm được bao nhiêu tiền một tiếng đồng hồ?
- Đó không phải là việc của con. Mà tại sao con lại hỏi một việc như thế hả? - Ông bố hết kiên nhẫn.
- Con muốn biết mà - đứa con nài nỉ.
- Nếu con cứ khăng khăng đòi biết, thì bố sẽ nói. Bố làm được hai đôla một giờ đồng hồ.
- Ôi - đứa bé rụt rè hỏi - bố cho con vay một đôla được không?
Ông bố rất bực mình:
- Nếu lý do duy nhất con muốn biết bố làm được bao nhiêu tiền chỉ là để vay mà mua mấy thứ đồ chơi vớ vẩn, thế thì mời con đi ngay vào phòng mình và ngủ đi. Hãy nghĩ xem tại sao con lại ích kỷ đến thế! Bố làm việc vất vả cả ngày, và không có thời gian cho những chuyện ấy đâu!
Đứa bé đi vào phòng đóng cửa. Ông bố ngồi xuống càng nghĩ càng cáu. Tại sao đứa con lại dám hỏi mình một câu như thế chứ?
Một giờ sau, khi đã bình tĩnh lại, ông bố nghĩ có thể đứa con rất cần tiền để mua một thứ gì đó, và nghĩ rằng mình đã quá nghiêm khắc với nó. Ông đi vào phòng con:
- Con ngủ chưa?
- Chưa ạ, con còn thức! - cậu bé nằm trên giường đáp.
- Bố suy nghĩ rồi, có thể bố đã quá nghiêm khắc. Đây là một đôla cho con.
Cậu bé cầm lấy rồi thò tay xuống dưới gối, lôi ra thêm mấy tờ tiền lẻ nữa.
Ông bố thấy con có tiền từ trước lại cáu. Khi đứa con xếp thành một xếp tiền ngay ngắn, ông bố càu nhàu:
- Tại sao con lại vay thêm tiền khi con đã có rồi?
- Vì con chưa có đủ ạ! - Bỗng đứa trẻ ngẩng lên vui sướng - Bây giờ thì con có đủ rồi! Bố ơi, đây là hai đô la, con có thể mua một giờ trong thời gian của bố không?
Người làm công kỳ lạ
Tôi rúc đầu vào gối , đầu nặng trĩu tuyệt vọng. Chẳng lẽ với tôi đây là cả cuộc đời còn lại. Tôi, hai năm sau khi ra trường, đang bỏ cả ngày tháng cho một công việc hoàn toàn không thích hợp, lương thấp mà cũng chẳng có tương lai. Đã nhiều lần tôi cố không nghĩ đến câu hỏi này , nhưng cảm giác chán nản đó đã không tài nào thoát ra được.
Sáng hôm sau, tôi cố lết ra khỏi giường để đến chỗ làm. Hôm nay có một vài người mới - họ là những người làm công tạm thời, lương còn thấp hơn nhiều so với nhân viên chính thức như chúng tôi. Sau một lúc làm việc, ánh mắt tôi chú ý đến một người. Anh ta có vẻ lớn tuổi nhất trong số họ, mặc bộ đồng phục. Đó là điều đặc biệt vì công ty chúng tôi không hề có đồng phục. Thật ra, họ cũng không biết chúng tôi ăn mặc như thế nào. Anh ta mặc một chiếc quần thẫm màu thẳng nếp với chiếc áo xanh lao động, trên ngực túi còn may ngay ngắn cả bảng tên. Có lẽ anh ta tự mua cho mình bộ đồng phục đó.
Tôi quan sát anh trong suốt ngày hôm đó, và cả những ngày kế tiếp khi anh còn làm việc với chúng tôi. Anh không bao giờ đi trễ hay sớm, chính xác như một chiếc đồng hồ vậy. Với một công việc hết sức bình thường, anh làm việc rất cần mẫn, chuẩn xác với một sự cẩn trọng đặc biệt. Anh hòa nhã thân thiện với tất cả mọi người nhưng không bao giờ nói chuyện trong lúc làm việc.
Đến giờ cơm trưa, trong khi chúng tôi đến nhận phần ăn của mình tại quầy phân phát, anh lại lặng lẽ lôi trong túi đồ một hộp cơm cũ kỹ bằng inox, và sau mỗi bữa ăn chỗ của anh lúc nào cũng sạch sẽ. Và dĩ nhiên, lúc nào anh ta cũng trở lại công việc đúng giờ. Có thể nói anh là một người làm công mà bất cứ ông chủ nào cũng đều hài lòng. Chúng tôi đều có những suy nghĩ như vậy, anh không chỉ tốt mà thật sự đáng khâm phục.
Rồi công việc tạm thời đó cũng chấm dứt, anh rời công ty rồi đi đâu không rõ. Nhưng đối với cuộc đời tôi anh đã hoàn toàn thay đổi cách suy nghĩ của tôi .
Tôi không mua cho mình bộ đồng phục, cũng không có hộp cơm trưa nhưng tôi bắt đầu đặt ra cho mình những nguyên tắc . Tôi bắt đầu tập làm việc như một doanh nhân chuẩn bị kỹ càng cho hợp đồng của mình, và rồi tôi được người quản lý đề bạt lên chức vụ cao hơn. Vài năm sau, tôi chuyển đến một công việc tốt hơn ở một công ty khác.
Cuối cùng, tôi cũng tự đứng ra lập công ty riêng. Cho đến mãi sau này, những thành công của tôi đều đến từ sự cần mẫn và may mắn của mình, nhưng tôi vẫn luôn nghĩ điều may mắn lớn nhất của tôi là bài học tôi đã học được từ người công nhân kỳ lạ năm xưa : SỰ TÔN TRỌNG KHÔNG ĐẾN TỪ CÔNG VIỆC MÀ BẠN ĐANG LÀM , NÓ ĐẾN TỪ CÁI CÁCH MÀ BẠN ĐANG LÀM CÔNG VIỆC ĐÓ.
Vai kịch cuối cùng
Có một người diễn viên già đã về hưu và sống độc thân. Mùa hạ năm ấy ông tìm về một làng vắng vẻ ở vùng núi, sống với gia đình người em là giáo viên cấp I trường làng.
Mỗi buổi chiều, ông thường ra chơi nơi bãi cỏ vắng lặng ngoài thung lũng. Ở đây, chiều nào ông cũng thấy một chú bé ra ngồi đợi đoàn tàu chạy qua thung lũng, trước khi rẽ vào những vách đá đến phía ga trên.
Chú bé hồi hộp đợi. Đoàn tàu phủ đầy bụi đường với những toa đông đúc hành khách như một thế giới khác lạ, ầm ầm lướt qua thung lũng. Chú bé vụt đứng dậy, háo hức đưa tay vẫy, chỉ mong có một hành khách nào đó vẫy lại chú. Nhưng hành khách - mệt mỏi vì suốt một ngày trên đường- chẳng ai để ý vẫy lại chú bé không quen biết.
Hôm sau, rồi hôm sau, hôm sau nữa, hôm nào ông già cũng thấy chú bé ra vẫy và vẫn không một hành khách nào vẫy lại. Nhìn nét mặt thất vọng của chú bé, tim người diễn viên già như thắt lại. Ông nghĩ: "Không gì đau lòng bằng việc thấy một em bé thất vọng, đừng để trẻ con mất lòng tin ở đời sống, ở con người."
Hôm sau, người em thấy ông giở chiếc vali hoá trang ra. Ông dán lên mép một bộ râu giả, đeo kính, mượn ở đâu một chiếc áo veston cũ, mặc vào rồi chống gậy đi. Ông đi nhờ chuyến xe ngựa của trạm, lên tàu đi ngược lên ga trên. Ngồi sát cửa sổ toa tàu, ông thầm nghĩ: " Đây là vai kịch cuối cùng của mình, cũng như nhiều lần nhà hát thường phân cho mình, một vai phụ, một vai rất bình thường, một hành khách giữa bao hành khách đi tàu..."
Qua cái thung lũng có chú bé đang đứng vẫy, người diễn viên già nhoài người ra, cười, đưa tay vẫy lại chú bé. Ông thấy chú bé mừng cuống quít, nhẩy cẫng lên, đưa cả hai tay vẫy mãi.
Con tàu đi xa. Người diễn viên già trào nước mắt cảm động hơn bất cứ một đêm diễn huy hoàng nào ở nhà hát. Đây là vai kịch cuối cùng của ông, một vai phụ, một vai không có lời, một vai không đáng kể nhưng đã làm cho chú bé kia vui sướng, đã đáp lại tâm hồn chú bé và chú sẽ không mất lòng tin ở cuộc đời.
Câu chuyện về con bướm
Một người tìm thấy một cái kén bướm. Đến ngày nọ, một cái lỗ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ khi nó vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó. Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.
Vì vậy, người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén.
Khi ấy, con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt.
Người đàn ông tiếp tục quan sát con bướm bởi vì anh mong đợi rằng, đến một lúc nào đấy, đôi cánh của con bướm sẽ to lên và dang rộng ra để có thể nâng được phần thân, trong khi cùng lúc ấy phần thân sẽ nhỏ đi.
Chẳng có điều gì xảy ra cả! Trong thực tế, con bướm dùng cả cuộc đời còn lại của nó bò loanh quanh với một cái thân căng phồng và những chiếc cánh nhăn nheo. Nó không bao giờ có thể bay được.
Người đàn ông, tốt bụng nhưng hấp tấp, đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự chật vật của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó cất cánh bay ngay khi nó thoát khỏi cái kén và giành được sự tự do.
Đôi khi, những cuộc đấu tranh chính xác là những gì chúng ta cần trong cuộc sống của mình. Nếu Tạo Hóa cho phép chúng ta trải qua cuộc sống mà không có bất kỳ trở ngại nào thì điều đó sẽ làm chúng ta trở nên “tàn tật”. Chúng ta sẽ không mạnh mẽ như đáng lẽ ra chúng ta đã có thể. Chúng ta sẽ không thể bay cao.
Vết thương
Một cậu bé nọ có tính hay nổi nóng. Một hôm cha của cậu bé đưa cho cậu một túi đinh và nói với cậu:
- Mỗi khi con muốn nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cây đinh lên chiếc hàng rào gỗ.
Ngày đầu tiên cậu bé đã đóng hơn một chục cây đinh lên hàng rào gỗ. Và cứ thế số đinh tăng dần. Nhưng vài tuần sau cậu bé đã tập kềm chế dằn cơn nóng giận của mình và số lượng đinh phải đóng mỗi ngày ít đi. Cậu nhận thấy rằng kềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng đinh lên hàng rào.
Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo :
- Tốt lắm, nếu bây giờ con tự dằn lấy được và không nổi nóng một lần thì con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào.
Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng trên hàng rào đã không còn cây đinh nào cả.
Người cha nói nhỏ nhẹ với cậu :
-Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh con để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lổ đinh này, chúng để lại những vết thương khó rất khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương dù lành nhưng vết sẹo cũng còn để lại mãi.
Con hãy luôn nhớ: Vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả thể xác. Bạn bè ta, những người chung quanh ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ nghe con than thở mỗi khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lời cha...





















